Giữa phố phường ngơ ngác một hươu sao
nguyenthehung | 30 December, 2011 10:50
Quả tôi chưa thấy bao giờ.
Truyện ngắn: Nguyễn Thế Hùng.
Thế là mùa xuân đã cạn ngày, những tàng lá xanh non mỡ dần chuyển sang màu xanh thẫm, lác đác rụng một vài lá vàng. Đã nghe đâu đó trong gió man man hơi nóng của gió Lào.
Mùa tình qua.
Những con hươu cái trong chuồng sau một mùa ân ái giờ mãn nguyện nằm bỏm bẻm nhai lại mặt thường hênh hếch lên đắc thắng khi cái bụng chửa đã lùm lùm. Những vết cắt trên đầu đàn hươu đực đã liền sẹo chuyển sang màu thâm xỉn, bộ lông vàng óng mượt đang dần chuyển sang màu hung. Hết mùa tình, chúng cũng chẳng còn bức xúc phá chuồng để mà đi tìm bạn như mấy tháng về trước.
Vào độ đó nhà tôi lại chuẩn bị một mâm cơn cúng để làm lễ rửa cưa, kết thúc một mùa nhung.
Năm nay cũng vậy, khi mâm lễ đã được mẹ tôi chuẩn bị xong, cha tôi cài xong khuy cuối cùng của chiếc áo lễ, thau rượu trắng hăng mùi gừng tươi được đưa lên bàn thờ bên cạnh cái cưa nhung và tấm vải điều đã được giặt sạch cất cẩn thận suốt cả mùa nhung cũng được đưa ra bày lên bàn thờ. Cha chuẩn bị rút hương ra châm lửa thì nhà tôi có khách. Khách là một người đàn bà đài các dáng thị thành tuy chân bước hơi nhanh và hình như vẫn chưa bỏ được thói mắt la mày lém của người quê đến chốn chưa quen. Buổi lễ cúng rửa cưa tạm thời phải dừng lại. Mẹ và tôi tạm lùi xuống bếp. Cha mặc nguyên cả áo lễ tiếp khách. Tôi và mẹ ngồi chưa dập miếng bã trầu đã nghe cha gọi lên nhà trên có việc. Tôi kính cẩn đứng sau lưng cha như những lúc hành lễ, cha chỉ vào người đàn bà giới thiệu:
- Đây là cô Ngân Hoa vợ của ông Ngân Lượng giám đốc nhà máy bia tỉnh ta - Quay sang tôi cha nói- Còn đây là Thiên, con trai tôi, cháu sẽ thay tôi đi cùng cô.
- Nhưng…- Cô Ngân Hoa ngập ngừng.
- Cô đừng lo, tôi theo dõi cả mùa nhung qua, cháu đã thay tôi cầm cưa được rồi cô ạ.
Nói rồi cha đến bên bàn thờ, lấy cái cưa nhung xuống trao cho tôi và nói:
- Con cầm cưa đi theo cô Ngân Hoa.
- Mùa tình đã hết, hươu cả làng này đâu còn cặp nhung nào nữa mà cắt?
- Làng này không còn nhưng làng khác vẫn còn con ạ. Cô Ngân Hoa đã tin tưởng cha con mình mà lặn lội tìm đến đây thì phải giúp thôi. Vẫn biết đất có thổ công…ở dưới đó cũng có nhà ông trùm Hậu là mát tay trong việc cắt nhung. Nhưng cô đây muốn giữ kín chuyện này, nên con xuông cắt xong thì về ngay, cũng đừng nói gì nếu thấy những chuyện khác thường.
Tôi đón lấy cây cưa nhung từ tay cha rồi theo cô Ngân Hoa ra xe. Lần đầu tiên, tôi và cây cưa nhung được đi xe ô tô. Cũng đúng thôi, từ bé đến giờ đã mấy khi tôi ra khỏi làng? Và cũng là lần đầu tiên tôi được ngồi trong một cái quán cà phê mà có mấy cô bán quán mặc váy ngắn như vậy, ngắn hơn cả con gái làng tôi xắn quần trước khi lội xuống ruộng sâu. Ngắn quá đến nỗi tôi không dám nhìn. Sợ lắm, chị tôi mới chỉ xắn quần quá đầu gối đã bị mẹ chửi là đồ hư thân mất nết rồi. Mẹ mà gặp mấy cô này không biết mẹ sẽ gọi họ là đồ gì đây? Tôi đang miên man suy nghĩ thì cô Ngân Hoa nói:
- Thiên này, trước khi về nhà, cô muốn ngồi lại đây với cháu ta thống nhất một vài điều. Cháu uống gì? Nước chè xanh à? Ở đây không có. Cháu uống bia hay cà phê cũng được.
- Thôi cô cho cháu chai nước lọc. Cô muốn dặn điều gì?
- Như cha cháu đã dặn, những gì cháu thấy ngày hôm nay cháu phải thề với cô là sống để trong dạ, chết ngạ bên mồ nghe chưa?
- Nhưng cháu đến nhà cô là để cắt nhung hươu, từ trước đến nay cháu cũng chỉ quen có cắt nhung hươu, còn mọi việc khác cháu không biết làm, thế cô muốn cháu làm việc gì mà phải bí mất? Cháu sợ lắm, không làm đâu, cô cho cháu về.
- Về là về thế nào, cháu vẫn cắt nhung, nhưng cặp nhung này hơi đặc biệt, cháu biết đâu bỏ đó là được rồi, đừng nói với ai, kể cả cha cháu.
- Nếu là nhung thì cháu chẳng sợ gì, cháu hứa, thôi cô cháu mình đi đi kẻo trời trưa.
Khi chúng tôi sắp ra xe thì có thằng bé bán báo dạo tiến đến, cô Ngân Hoa hững hờ rút một tờ Trẻ Tuổi rồi cũng hững hờ như thế, cô giở từng trang báo ra. Bỗng mắt cô mở to hết cỡ khi bắt gặp dòng “tít” “ Nhà máy bia Tĩnh Hà gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.” Cô đọc ngấu nghiến hết trang báo rồi ngay tặp lự rút diện thoại ra gọi:
- Anh à? Anh giết em rồi, sao anh để thằng Trẻ Tuổi nó đánh nhà máy bia như thế?... Rồi, em công nhận là có trường hợp lợn nhà ông Hợi đẻ ra một con voi con thật. Đúng, đúng, em tận mắt chứng kiến… trâu nhà ông Sửu đẻ ra con nghé hai đầu cũng là có thật. Hả, anh nói gì? Chuyện đó thì em có nghe, nhưng không thấy, nó không cho xem…nhưng… thiếu chim mới sợ chứ nó đẻ được thằng con trai hai chim thì tốt quá còn gì? Chim cò giờ đang thiếu, có người không thiếu nhưng có chim có cò mà chẳng nên chim nên cò cũng chán chết… đùng một cái nhà nó có thằng con hai chim, biết đâu mai nay cả cái tỉnh này sẽ sản sinh ra một thế hệ đàn ông hai chim thì coi mà đắt hang, tất cả phải cảm ơn nhà máy bia ấy chứ. Sao, ngay bây giờ a? Nói qua điện thoại không tiện à? Bàn bác, bàn bạc như mấy lần trước đến rạc cả người chứ gì? Nỡm ạ, em đang rối lòng lên đây này, không được đâu, em đang có tí việc thật mà…Hôm khác không được à…lại mới nốc huyết hươu vào chứ gì…nhưng…nhưng…. không… Hứa nhé, anh đã hứa rồi nhé. Nó phải có bài cải chính ngay số báo tới nhé. Rồi em tới liền, nhưng hôm nay anh phải để em về sớm đấy. Nỡm ạ…sâm nhung cho nó nhiều vào rồi… vẫn chỗ cũ phải không? Thôi em không dám đến đó đâu, chỗ khác kín đáo hơn tí, con sư tử nhà anh….Rồi, rồi, em đến ngay.
Bỏ điện thoại vào túi xách, lấy hộp phấn ra phên phết lại mặt, kẻ một đường chì mờ lên hai chân mày hình cánh ná, miết lại cái môi son, mim mím dăm lần cho son cắn chắc vào môi như sợ sắp gặp phải kẻ bạc tình làm cho mình bạc phấn. Cô Ngân Hoa quay sang tôi nói:
- Bây giờ cô phải đi đây có chút việc, cháu cứ ngồi đây chờ, kể cả chuyện này cháu cũng bí mật giúp cô.
- Nhưng cắt nhung vào buổi chiều không tốt đâu cô ạ.
- Không sao, kể cả ban đêm cũng không sao, cháu cứ ngồi đây chờ cô về đón, đừng đi đâu mà lạc nhé. Này - cô hất hàm cho cô tiếp viên- nếu anh này chờ lâu mệt, các em đưa anh vào trong chăm sóc giúp tôi nhé.
Cô khuất lưng, tôi nghĩ: Lạ, nhà đã nuôi hươu mà không biết một tí gì về hươu, trước khi cắt nhung còn hẹn hò với trai. Không những bản thân đi hẹn hò mà còn bảo thợ cắt nhung đi nghỉ. Mùa tình là mùa của vạn vật sinh sôi, của gái trai tình tự, nhưng mọi điều đều có chung cái quy luật của nó. Hươu là linh vật của làng, nên trước khi đến với linh vật đều phải thanh sạch, sáng trong. Thợ bắt đầu, thợ cắt nhung và gia chủ có hươu sắp cắt nhung đều phải trai giới. Điều đó không ai không biết, đến vợ chông còn phải xa ra huống hồ là hẹn hò. Lạ thật chẳng lẽ nuôi hươu mà không biết chuyện đó?!
*
* *
Tôi hết đứng lại ngồi, mặt trời lên ngự đỉnh trời rồi tà tà ngã về phía tây vậy mà cô Ngân Hoa vẫn chưa quay lại. Mãi đến khi phía tây mây đỏ đòng đọc như một chậu máu, hoàng hôn đang tham lam nuốt dần mặt trời thì cô mới tã tượi trở lại. Không biết ăn nhiều son môi có ảnh hưởng gì tới bệnh đường ruột không? Nếu có tôi dám chắc ngay đêm nay người tình của cô Ngân Hoa phải đi mua ngay mấy liều béc-bê-rin phòng tiêu chảy. Bởi trước khi đi cô ấy đã tô cho đôi môi chuối mắn đỏ chót lên thế kia, vậy mà bây giờ nó đã bạc thênh thếc như da trùn chết.
Nhà cô Ngân Hoa ngự ngay mặt phố, rộng thênh thang, đẹp như một lâu đài. Tôi chợt nghĩ, nếu cái này cũng gọi là cái nhà thì không biết cái cha con tôi đang ở phải gọi là cái gì? Chắc là gọi lều thôi, mà lều cũng không xứng. Cũng giống như người ta gọi cụ Nguyễn Du là nhà thơ, và ông Trường hói cạnh nhà tôi chuyên đi thiến lợn, tự bỏ tiền ra in được tập thơ cũng vênh vênh xưng mình là nhà thơ. Không biết cô Ngân Hoa hưởng cái lộc gì mà to, mà giàu, mà sung sướng hơn cả dân làng tôi mấy mươi đời được hưởng lộc trời- nhung hươu được gọi là lộc trời mà.
Tôi đang ngơ ngẩn nhìn quanh quất không biết nhà cửa như thế này thì chuồng hươu đặt ở đâu? Gọi tôi đến cắt nhung mà chẳng thấy có chuẩn bị gì, bét ra cũng phải có dăm bảy người giữ thì tôi mới cắt nhung được chứ? Đang thắc mắc cành hông thì có một người đàn ông phóng xe máy vào tận nhà. Người lẻo khà lẻo khẻo thế này chẳng lẽ là thợ băt đầu, lạ thật. Không cả nhìn tôi, anh ta chạy ngay lên lầu, một lúc sau thấy khoác ta cô Ngân Hoa đi xuống. Chết cha, chẳng lẽ con cú này lại là chồng của con thiên nga này sao? Chả trách thiên nga chiều nay tách đàn. Tôi lại thắc mắc cành hông thì cô Ngân Hoa nói:
- Trăm sự nhờ anh, anh cứ dùng loại thuốc tốt nhất gây mê cho nhà em giúp. Và điều quan trọng là anh giữ kín cho việc này. Trăm sự nhờ anh, em sẽ đền đáp xứng đáng.
- Em khỏi lo, đến voi anh gây mê còn ngủ li bì nữa là người, gây mê xong anh sẽ…sẽ…gây….tê ….cho em luôn nhé.
- Nỡm ạ, cứ xong việc đi đã nào.
Vừa nói hai người vừa dắt nhau vào buồng trong. Khoảng mười lăm phút sau, cô Ngân Hoa ra cửa gọi tôi vào. Khi tôi lại gần, cô đặt bàn tay dịu dàng lên vai tôi nói:
- Cháu thật bình tĩnh mà cưa cho tốt nhé, đừng sợ gì cả, cứ cắt như cắt nhung hươu.
- Thế,,,,?
- Không việc gì cả, cô và chú bác sỹ thú y sẽ giữ chặt đầu cho cháu cưa. Với lại ngủ li bì rồi, còn sợ gì nữa.
Chúng tôi đến bên chiếc gường đôi, trên đó có một người đàn ông đang nằm ngủ. Tôi nhìn lên mặt, lên đầu người đàn ông rồi bỗng rụng rời chân tay, trên đầu ông ấy đang đội một cặp nhung trắng hồng với nhánh chính, nhánh con đẹp như vẽ. Trên đời này kể từ khi nhà máy bia gây ô nhiễm, tôi đã thấy khá nhiều chuyện lạ, chuyện bò hai đầu, gà bốn chân, lợn voi, chuột chó… đều thấy cả, nhưng người mà mọc nhung như hươu thì quả tôi chưa thấy bao giờ. Nhưng quả thật chẳng còn con đường lùi, tôi bặm môi cưa. Cưa ăn nhung xoèn xoẹt. Từ vết cắt nhiểu xuống thau rượu hứng phía dưới một dòng máu đen, tanh, thối, khẳm… như nước thải nhà máy bia. Tôi vẫn nghiến răng cưa, còn cô Ngân Hoa chắc không chịu được mùi xú uế chảy ra từ chồng. Cô nôn khan rồi ôm mặt lao vào nhà về sinh.
Người mà mọc nhung như hươu, máu người mà đen, hôi như nước cống, quả tôi chưa thất bao giờ.
NTH.
TC. Văn nghệ quân đội.
Số 4 Lý Nam Đế - HN
nguyenthehung | 13 December, 2011 10:53
Lê Cảnh Nhạc là người Tĩnh (Hà Tĩnh), nên cái tình tràn ngập trong thơ của anh. Cái tình trở thành bầu trời bao bọc và dung chứa con người.
Thoạt tiên, tôi mặc định trong đầu mình rằng Lê Cảnh Nhạc là người viết văn xuôi, vì những tháng năm còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi đã chuyền tay nhau đọc đến nát nhàu tập truyện Người học trò thứ 31 của anh.
Đã mặc định như vậy nên khi nghe thầy giáo dạy văn đọc những câu thơ: “Người yêu ơi thôi nũng nịu em đi/Chằng ngại thiếu dầu thơm về gọi đầu lá sả/Chim khách gọi đầu hè, chim chuyền cành trước ngõ/Tàu cau rụng sau nhà, hoa bưởi nở vườn bên” trong bài Sao em không về quê cùng anh của Lê Cảnh Nhạc mà không hiểu sao tôi vẫn đinh ninh nghĩ đó là thơ của một Lê Cảnh Nhạc nào đó, không phải của tác giả tập truyện Người học trò thứ 31.
Giờ, khi đọc tập thơ… của anh thì mới biết rằng Lê Cảnh Nhạc đích thực là người thơ, nhà thơ. “Nghệ đa tài, Tĩnh đa tình”.
Lê Cảnh Nhạc là người Tĩnh (Hà Tĩnh), nên cái tình tràn ngập trong thơ của anh. Cái tình trở thành bầu trời bao bọc và dung chứa con người. Thiêng liêng vậy, quan trọng vậy cho nên lời tha thiết này cũng rất hiển nhiên: “Xin tình đừng nhạt nắng/ Xin người đừng lơ đãng”.Có một tình cảnh trớ trêu về Tình được bày ra trong hai bài thơ đó là bài Hòn chồng và bài Tiếng đêm.
Trong tiếng gọi chồng giữa đêm thanh vắng, da diết, chứa đựng biết bao nhiêu trạng thái với câu hỏi cuối cùng: Tiếng gọi người về/Tiếng thốt hư không? (Tiếng đêm). Trong Hòn chồng thì: Đá đứng dìu đá ngồi/Thủy chung không biết mỏi/biển ầm ào xô đẩy/vết cứ hằn thời gian/đá sắt son tình đá.
Một kẻ là người thực đi xa khuất, hun hút, một kẻ là đá đứng lại, bất khuất, kiên gan. Câu hỏi gieo vào lòng người, không phải là giữa hai câu thơ mà là giữa hai bài thơ, về một chữ Tình đầy ẩn nghĩa.
Là người yêu quê đến đắm đuối, cho nên cái tình với miền quê Bão giật tháng Ba, lũ tràn tháng Tám ấy đã đi vào trong thơ Lê Cảnh Nhạc rất giản dị, nhưng không kém phần ám ảnh: “Con lớn lên, đồng níu mẹ hai vai/Bão giật tháng ba, lũ tràn tháng tám/Đắp đập vá đê, be bờ chống hạn/Hạt gạo nuôi con biết mấy tảo tần”. Quê hương cũng chính là hình ảnh của mẹ vậy.
Người ta bảo yêu nhiều thì ghen lắm, điều này quả thật là chí lý. Nếu anh không còn ghen hay không bị ghen nữa thì nên xem lại tình yêu. Lê Cảnh Nhạc còn được ghen, còn bị ghen, nghĩa là còn được và “bị” yêu thắm thiết lắm: “Mầm ghen bủa vây xới đất lật nhà/Gặp lực cản càng lớn nhanh như thổi/Khi rần rật lửa rơm, khi ngàm âm ỉ cháy/Đôi mắt ghen nhìn, đôi tai ghen nghe”.
Và đây nữa: “Vẫn là em, điên đảo hờn ghen/Nồng như ớt, mặn như là muối bể/Cuống quýt vào ra chua chanh chát khế/Quay quắt thương, quay quắt nhớ xa chồng”.
Mặc dù làm Tổng biên tập của một tờ báo thuộc Bộ Y tế có đầy đủ thuốc Đông, Tây y kết hợp nhưng cuối cùng anh kết luận chỉ có một loại thuốc duy nhất phòng được bệnh ghen là: “Phòng bệnh ghen chỉ có trái tim yêu”. Ghen ở đây là để tăng thêm gia vị cho cuộc sống vợ chồng, ghen để tình yêu được thăng hoa hơn, hết giận rồi là để yêu thêm mà thôi.
Thơ Lê Cảnh Nhạc trữ tình, giản dị, sâu lắng nhưng không sa vào dễ dãi, ngay cả ở mảng thơ thế sự thì anh cũng lấy cái tình để chắp cánh cho những tự sự của mình được thăng hoa. Thơ anh thuộc dạng dễ đọc nhưng đọc được nhiều lần.
Nhà văn Nguyễn Thế Hùng giới thiệu và tuyển chọn.
Mời độc giả thưởng thức một số bài thơ trong tập thơ Không bao giờ trăng khuyết của nhà thơ Lê Cảnh Nhạc:
Không bao giờ trăng khuyết
Đã qua ngày trăng tròn
Nhưng mãi mãi không bao giờ trăng khuyết
Câu thơ neo nhịp cầu giã biệt
Bao giờ anh dắt em sang?
Sông thời gian chảy mãi không cùng
Hạnh phúc đôi bờ diệu vợi
Bến tình yêu nao lòng đón đợi
Thuyền trinh nguyên có sải mái chèo?
Đã xa rồi lời yêu
Đã xa rồi những nhung nhớ
Biển cả ngóng chờ
Cánh buồm dong…
Tinh khiết từ ngọn nguồn tuôn chảy đời sông
Giữa đôi bờ tình yêu và cuộc sống
Bờ thăng hoa
Sông đời lừng con sóng
Bờ yêu thương
Cát trắng ánh pha lê
Giữa đôi bờ sông vẫn chảy đam mê
Câu thơ cũ xin đừng neo bến cũ
Câu thơ hãy tuôn về cùng biển cả
Theo sông chan con sóng mặn mòi
Dẫu rằm trăng vành vạnh qua rồi
Đêm mười sáu mới thực trăng loang tràn ánh bạc
Bởi thế trăng em không bao giờ khuyết
Bởi thế sông em chẳng lắng sóng bao giờ
Kí ức trào thổn thức những trang thơ
Dòng thời gian chẳng phút nào ngơi nghỉ
Nhành lan trắng một đời trinh trắng thế
Đốt chiều anh, nắng quái trước hoàng hôn.
***
Cám dỗ
Vầng sáng rọi
Triệu ánh nhìn chiêm ngưỡng
đừng quên bóng sau lưng che lấp bao người
Tuyệt đỉnh phút thăng hoa
đừng quên linh hồn từng nhuốm bụi
Ta biết trong ta những góc nào u tối
Mê hoặc ta đâu dễ đứt lìa
Bóng tối cuốn đi
Bóng tối hút về
Cơn khát cuồng si nô lệ
Bóng tối gian manh vỗ về tâm trí
Uốn lời ta lúc diễn thuyết đăng đàn
Ta nhón cao, bóng tối lớn dần
Vỏ áo choàng nuốt quầng ánh sáng
Cám dỗ ngọt ngào, mầm cay đắng
Lần khuất khi ta biết tự soi mình
***
Một nửa
Một nửa tin yêu một nửa ngờ vực
Nửa kết sâu bền, nửa vu vơ
Nửa trải lòng, nửa đầy bí hiểm
Nửa sáng như gương, nửa tối mờ
Nửa của đời mình, nửa của ai
Nửa lạnh lùng, nửa ấm bờ vai
Ánh mắt bên cười bên ngấn lệ
Nửa cháy ngời lên nửa rối bời
Nửa ngún nồng đêm, nửa nguội tàn
Nửa giục lên đường, nửa thở than
Nửa trôi với nửa không bờ bến
Nửa níu dây neo nửa cuộc đời…
Một nửa thế là cứ chơi vơi
Chân chẳng bén đất, cật chẳng trời
So cân một nửa cùng một nửa
Nửa cán cân đời số không thôi.
(Thơ Lê Cảnh Nhạc – NXB Hội Nhà văn – 2010)
Tác phẩm chính đã in của nhà thơ Lê Cảnh Nhạc
- Người học trò thứ 31 (Tập truyện, NXB Kim Đồng, 1990)
- Nỗi oan của Đốm (Tập truyện, NXB KimĐồng, 1992)
- Mầm ác và hướng thiện (Tập ký, NXB Thanh Niên, 1994)
- Lâu đài (Tập truyện, NXB Văn học, 1999)
- Lời ru không bán (Tập truyện, NXB Kim Đồng, 2000)
- Khúc giao mùa (Tập thơ, NXB Hội Nhà Văn, 2005)
- Không bao giờ trăng khuyết (Tập thơ, NXB Hội Nhà Văn, 2010)
“… Thơ Lê Cảnh Nhạc gần đây thiên về hướng suy tưởng. Đó là con đường đi từ ước mơ khát khao đến chân trời giông bão, để từ đó đến được sự bình yên thật sự của cõi lòng và minh triết của nhận thức”. – Nhân dân cuối tuần, số 27, ngày 2/7/2006.
nguyenthehung | 13 December, 2011 10:40
Nhà văn Nguyễn Thế Hùng hiện là Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh bắt đầu viết văn năm 1998, vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010. Nổi tiếng với các tập truyện ngắn: Đàn chim về sau bão, Ngược ngàn, Người đi bỏ mặc câu thề... Đặc biệt tiểu thuyết “Họ vẫn chưa về” của anh đã đạt Giải thưởng Liên hiệp Hội Văn học-Nghệ thuật TP. Hà Nội năm 2010. Sau đây là cuộc trao đổi ngắn giữa Hoàng Thanh Hương với anh.
Là một nhà văn quan đội, một người lính nhưng anh không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, anh có nghĩ đó là điều khó khăn khi viết về đề tài chiến tranh?
- Là nhà văn quân đội dĩ nhiên đây là đề tài tôi quan tâm nhiều, là chủ đề lớn trong sự nghiệp sáng tác của tôi. Không phải tham gia vào các cuộc chiến là một may mắn cho tôi nhưng đó cũng là một thiệt thòi. Tôi may mắn được đọc nhiều tác phẩm viết về chiến tranh của các nhà văn lớn nhưng tôi viết về chiến tranh theo cách của tôi, đạt được như thế nào thì phải dựa vào sự thẩm định của độc giả.
Anh đã xuất bản 5 tập truyện ngắn, anh tâm đắc nhất tập truyện nào, truyện ngắn nào?
- Đó là 4 đứa con tinh thần của tôi, tôi yêu tất cả, mỗi tập truyện ngắn đều có một thú vị riêng, theo tôi. Thích nhiều hơn một chút thì là truyện “Lộc trời” vì tôi nghĩ về cơ bản, con người ta đều giống nhau về mặt sinh học. “Trời cho ai người ấy hưởng” nên người hơn người, làng này hơn làng khác, quốc gia này hơn quốc gia khác chính nhờ cái “lộc trời” ấy! Phải biết trân trọng “lộc trời” để duy trì lâu dài và làm được nhiều điều tốt đẹp để lại cho đời.
Gần đây, một số nhà văn quân đội cùng thế hệ với anh như: Đỗ Tiến Thụy, Phùng Văn Khai, Nguyễn Đình Tú đã xuất bản tiểu thuyết và thu hút được độc giả, anh có định tập trung viết tiếp tiểu thuyết để truyền tải đến độc giả nhiều thông điệp hơn không?
- Tôi đã viết xong cuốn tiểu thuyết thứ hai “Lối nho nhỏ” sắp ra mắt bạn đọc. Tôi không nghĩ tiểu thuyết lại truyền tải được nhiều thông điệp hơn một bài thơ hay một truyện ngắn. Tôi chỉ tập trung viết tiểu thuyết khi đã thấy mình nên và cần sau khi đã viết khá nhiều truyện ngắn, nếu tôi viết tốt sẽ nhận được nhiều hồi âm tốt từ phía độc giả và ngược lại. Dĩ nhiên dung lượng tiểu thuyết bao giờ cũng dày hơn một truyện ngắn nhưng thông điệp nhiều hay ít cái đó lại phụ thuộc vào tài năng nhà văn.
Gia Lai đã khi nào là nguồn cảm hứng trong sáng tác của anh?
- Tôi đến Gia Lai 3 lần, lần ở lại lâu nhất là 15 ngày trong một đợt thực tế sáng tác tại Tây Nguyên năm 2006. Gia Lai để lại nhiều ấn tượng đẹp và tôi yêu quý nơi này, tiếc là chưa đi đến được nhiều nơi hơn. Đây là vùng đất xinh đẹp, giàu bản sắc văn hóa. Người Pleiku nồng ấm và mến khách. Cà phê tuyệt ngon. Tôi rất muốn trở lại và chắc chắn sẽ trở lại nhiều lần nữa để viết một cái gì đó thật đậm đặc về Gia Lai, về Tây Nguyên.
Hoàng Thanh Hương
.
nguyenthehung | 09 November, 2011 09:42
Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng
Ông Tận - Em trai ông nội tôi - Vợ chồng chỉ sinh được hai cô con gái. Hai cô lấy chồng tít tận miền nam. Cả hai đều vớ được chồng giàu, ít khi về quê. Ông bà đã tám mươi, ngày nhìn mặt trời thấy số tuyệt tự chòn hỏn ở đầu hồi nhà. Ông nội tôi được hai trai, cha tôi và chú Khín. Nhà tôi ba anh em, hai trai, một gái. Chú Khín nhỉnh hơn đẻ bốn thằng, thằng nào thằng nấy vai gấu, mặt dơi, tay chân khều khào. Không có một con mương hay hố bom nào sót dấu chân của anh em nó. Lươn, lạch, rô, rạch. Tất cả đều là món khoái khẩu của chúng khi đã qua lửa rơm thui trèm. Chú Khín hay rượu. Khi thím đẻ ba thằng con trai, chú đập bàn: "Tam nam bất phú." Thím đành phải mở cửa liếp cho thằng thứ tư chui ra. Vẫn không thấy cảnh bất bần. Không biết có phải vì thằng út không mà ba thằng anh trứng gà, trứng vịt chỉ thích cua cáy với ao hồ. Chú cũng không cải thiện được mồi nhắm rượu. Vẫn chỉ là cua cáy lươn lạch với chuối xanh. Dòng liu điu lại liu điu trong nhà chú. Ông bà nội tôi mất. Cha thay ông thờ cúng tổ tiên. ở quê có câu: "Trâu bò ở lâu thương nhau, người ở lâu ghét nhau." Nhà tôi và chú Khín không ngoại lệ. Khi vì con lợn con gà, khi vì miếng ăn trong những ngày đói, đã không ít lần chú Khín xua cả bè lũ bốn tên sang tính làm cỏ gia đình tôi. Những khi ấy, cha tôi bảo cả nhà lánh đi, ai cũng ngoan ngoãn nghe theo, chỉ có anh Hinh - anh trai đầu của tôi - mỗi lần như vậy, sửng cồ:
- Đánh cho chết cha chúng nó đi chứ, sợ đếch gì.
Cha nhỏ nhẹ:
- Chúng nó là ai! Chú và các em con cả, ai sai để một người sai. To tiếng thiên hạ cười.
Cha nhìn anh với đôi mắt buồn buồn. Cha thương và lo cho anh, cũng vì ngày mẹ sinh anh, cha còn ở xa, nhà túng bấn, anh bỏ học từ năm lớp ba. Và tôi biết, cha đã dìm được cái máu của một người lính đặc công cùng với dòng nước mắt uất nghẹn trước một thằng em cha đã đạp đầu chui ra. Khi mọi việc tạm ổn, cha hỏi mọi người nguyên nhân, nếu thấy chúng tôi sai quấy thì cha bắt phải sang nhà chú Khín xin lỗi. Những lần như vậy, tôi thấy mắt ông Tận như bị kéo màng. Khuyên nhủ con cháu không được ông buồn nhưng không nỡ bỏ. Còn bà Tận thì bà bỏ thật, bà chè riệt con đường thông sang nhà chú Khín. Nấu ấm nước chè xanh bà đứng xông xổng mời váng cả làng, riêng nhà chú Khín không hề được nhắc tên. Có miếng gì ngon bà thường ấn vào tay đứa em út tôi. Con chú Khín không bao giờ dám tơ hào.
Chẳng ai cưỡng được mệnh trời, cuối năm vừa rồi bà bỏ ông mà về với đất. Bà tạ thế, o dượng về tới nơi thì đã mồ yên, mả đẹp. Được như thế công đầu phải kể đến chú Khín, từ cha cho đến con xăng xái chung sức chung tiền cùng gia đình tôi lo cho đám tang của bà chu đáo. O Toan - con gái đầu ông Tận - ngước đôi mắt nâu như mắt chó phốc, hàm ơn chú Khín, o hỏi:
- Anh mua bộ áo quan cho bà hết bao nhiêu, em gửi lại?!
Chú xoa tay:
- Anh không mua, anh lấy của anh cho bà.
Nghe vậy o khóc, dúi vào tay chú một cọc tiền màu xanh. Đẩy trả lại không được, chú nhận. Mọi người có mặt ở đó đều cảm động, riêng ông Tận và cha tôi không thấy có biểu hiện gì. Thấy chú Khín thế tôi thầm mừng và nghĩ: "ừ! tám mươi cụ đi là hợp lẽ trời. Thương cụ nhưng cảm ơn cụ nhiều lắm. Người chết đành phận nhưng để cho người sống xích lại gần nhau." Sau đám tang không khí giữa hai nhà khác hẳn. Nói đúng hơn là thái độ của cha con chú Khín đối với bên nhà tôi khác hẳn. Đường sang ba nhà thông từ đó.
Anh Hinh đến tuổi lấy vợ, cưới một cô cùng làng. Năm sau anh lên chức cha nhưng trình độ vẫn chỉ lớp ba. Vợ chồng anh ở chung trong nhà, ăn khác bếp. Đã không ít lần anh đánh tiếng muốn sang ở cùng ông Tận để chăm sóc ông lúc tuổi già. Biết vậy, ông chỉ cười hiền, chòm râu bạc rung rung như một triết gia.(Chỉ giống thôi, ông Tận không biết đọc, biết viết!) Trong nhà tôi là người may mắn hơn cả, học hành tấn tới, trở thành người thành đạt nhất trong cái dòng họ luôn ngấp nghé bên bờ tuyệt tự. Tốt nghiệp đại học loại trung bình, về huyện tôi thành của hiếm. Mấy người trước đây hay gọi xách mé tôi cu đen, cu đỏ giờ chuyển gam, khúm núm gọi là đồng chí. Nhân dịp có chủ trương quy hoạch nắn thẳng lại đường quốc lộ, chỉ một vạch lăn đường chì kẻ, tôi đã cho con đường dịch vào, chạy sát ngõ nhà tôi. Tất nhiên là qua cả nhà ông Tận và chú Khín. Đồng thời đình làng phải dời vô ba bốn mét, đập mất cái cổng đình đã ba trăm mười lăm năm tuổi. Thỉnh thoảng về quê, tôi mang theo một vài chai rượu người ta biếu, tôi cho chú Khín một chai đã uống dở. Để thắm thiết hơn tình họ hàng, tôi cùng ngồi nhón với chú món lươn, lạch, liu điu nướng sem sém lửa rơm. Ông Tận vui, cười giản các đường răn trên mặt khen tôi:
- Thằng Lành làm quan mà không mất gốc, khá!
Tôi hỏi chú Khín:
- Trước chú đi bộ đội mấy năm, ở vùng nào?.
- Bốn năm, vùng nào tao không biết, toàn rừng với rú. Không có chữ trong đầu, tao làm anh nuôi.
- Thế phiên hiệu đơn vị?
- Hình như B3.
- Để tôi làm cho chú cái thương binh, thêm tháng ít trăm.
Mắt bổng sáng như mắt sói, chú hỏi lại:
- Mày làm cho cha mày chưa? Chín năm lính, sáu vết thương, cha mày chưa thành thương binh. Còn chú mày lấy bao nhiêu? ở nhà chúng nó đòi ba triệu.
- Cụ không chịu làm, cụ không muốn khai khống thương tích, bôn hết sức! Còn chú nếu muốn tôi làm cho không. Ai muốn làm nữa chú nói với tôi, triệu rưởi, nếu được tôi cho chú trăm rưỡi một suất.
- Thế thì tao coi mày là ông nội, cố ông nội cũng được. Mày con thứ nhưng là ông tổ của tao.
Mùa đông đến, ông Tận yếu tợn. Chú Khín và anh Hinh hay sang nhà ông hơn. Hai chú cháu nhìn nhau cứ lườm lườm. Chú vào thì cháu ra, cháu vào thì chú ra. Khi có mặt cha tôi, hai người làm bộ thản nhiên và thường lánh đi chỗ khác. Cha và ông Tận hay cùng nhau ngồi bên bếp lửa, ông kể cho cha nghe về nguồn gốc dòng họ. Ông nói:
- Nghe các cụ kể lại thì họ mình đâu tận miệt ngoài. Cụ tổ nhánh này đã từng làm quan nhưng không chịu luồng cúi, bỏ vô rừng sống bằng nghề ăn cướp. Trong một lần đi cướp, lỡ tay đánh chết mệnh quan triều đình, bị Tây với quan quân rượt, bè đảng tan tác, không còn đất dung thân. Lần cuối cùng chay qua làng cụ nhắn lại: "Khi nào hết Tây tao mới về". Nhắn xong cụ nhằm hướng núi lao đi, chạy mãi cụ lạc đến đất này, giấu biệt tung tích, xin làm đứa ở cho địa chủ Kim Hét. Cụ khoẻ, thông minh nên được Kim Hét tin nhận làm con nuôi rồi gả con ở cho, thế là thành một dòng. Đến ngày miền Bắc hết Tây cũng không ai nghe cụ nhắc đến chuyện về quê. Không biết vì lẽ gì, họ truyền cho đến nay vẫn không phát đạt được. Họ này ít đinh, đông nhất cũng chỉ chục đổ lại. Họ chưa có gia phả, khi nào tiện anh chép ra cho con cháu đời sau nó biết.
Cha buồn buông xuôi:
- Không biết rồi có đứa nào đọc được không, chưa quen mặt chữ đã bỏ học hết. Được thằng Lành thì chắc phải đi xa, hoặc phải sống trong tù tội. Số nó thế.
Có dạo các o tôi muốn đón ông vào miền Nam, ông nói: "Con thì thương, nhưng nắm xương phải giữ." Ông biết mình sắp về với bà, với tổ tiên nên sợ phải hoả thiêu nơi đất khách! Các o về được mấy ngày rồi lại vội vã ra đi, trước khi đi lau nước mắt, sụt sùi nói với cha tôi: "Trăm sự nhờ anh, chúng em phận gái không dám tơ hào." Ông càng yếu thì chú Khín càng ân cần, có miếng gì ngon chú mắng con át cả tiếng chó cắn nhau: "Phải đưa sang cho ông trước đã chứ, chúng mày còn trẻ, ăn khi nào chẳng được!". Vợ chồng anh Hinh cũng vậy, thỉnh thoảng bắt con gà nhảy ổ làm thịt đưa cho ông hai cái đùi. Cha mẹ tôi cũng được hai bát cháo đầy sòng sành, nổi lổn nhổn hai mẩu cánh gà. Chị dâu tôi bụng đã nhon nhỏn. Hai đứa con dâu của chú Khín cũng rủ nhau ra vặt khế chua sau vườn. Đến khi trái thấp đã hết, chúng đưa ghế kê dưới gốc nhón lên vặt những trái cao. Sợ chúng ngã, chú ngồi xuống giữ chặt ghế. Hái xong khế con dâu đỏ mặt kéo chéo váy nép nép vào nhà. Thằng con thứ ba của chú lấy vợ, nhờ ông Tận một vạt đất phía trước mở quán sửa xe máy và vợ chồng chúng nó ở luôn. Anh Hinh trình độ lớp ba, bỏ học lâu quá, kiến thức rớt dài theo ruộng theo nương cho nên giờ không còn biết đếm. Nhờ lấy được cô vợ lớp bốn đang đếm được vọoc vẹc nên cũng mượn vốn, mượn đất ông Tận mở sạp bán thịt lợn. Bán được mấy tháng, đường dao đã quen tay lắm, lỡ khi vợ đi vắng, không cần phải cân, khách mua tờ xanh, anh cắt theo tờ xanh, đưa tờ đỏ cắt theo tờ đỏ, ai muốn mua lẻ thì buộc phải đợi chị về. Từ ngày anh mở sạp thịt, không hiểu sao lợn trong làng chết dịch nhiều hơn, anh toàn mua được mối hời. Có khi người ta cho không anh để đỡ công chôn. Tối về bữa nào lời nhiều, anh vừa đếm tiền vừa tủm tỉm:
- Mấy thằng Mường thế mà hay, mấy cái lá vớ vẩn, tham ăn như lợn cũng phải bỏ cám.
Cha nghe vậy rên lên:
- Đừng làm vậy thất đức con ơi, cả gia tài người ta được con lợn....
- Con lấy vài con lợn của dân nhằm nhò gì. Thằng Lành giờ tiền tỉ."
Nghe vậy cha thở ra thườn thượt.
Mở sạp thịt lợn, anh chị thường xuyên nấu cháo tim cật đưa sang cho ông Tận. ăn nhiều ông phát ngán, nhưng chối thì sợ anh chị buồn nên thường phải len lén cho đứa em út tôi ăn. Nó thèm, đói, mắt la mày liếc, đứng sau hồi nhà húp soàn soạt rồi luồn bát qua ngạch vách, một lúc chị dâu sang lấy bát về rửa, thấy cháo hết, tưởng ông ăn được, hôm sau lại mang sang. Nhờ đó con em tôi dậy thì đúng tuổi.
Tám tư tuổi, ông Tận nằm một chỗ. Chắc chưa đi được nên ông không muốn tin cho con gái về. Đêm cha tôi thường sang ngủ với ông. Chú Khín và anh tôi vẫn như mặt trăng với mặt trời. Mẹ tôi hay mè hè, không dám giặt quần áo ông Tận. Mọi việc cha lo hết. Có nhiều khi cha và chú Khín ngồi canh giấc ông. Thấy ông nhăn nhăn mặt, chú Khín vội kiếm cớ đi ra ngoài. Ngay sau đó, cha làm một xô quần áo sặc sực mùi xú uế. Chị dâu tôi sinh, mẹ tôi không dám giặt đồ bà đẻ, anh Hinh làm vô vài cốc rượu với dồi tràng lợn lấy can đảm, rượu ngấm, tất cả được anh giặt sạch sẽ. Riêng quần áo của ông Tận vẫn chỉ mình cha đảm trách. Khi cha vắng mặt, chú Khín và anh Hinh lại len lén sang. Ông nằm đó, tuy người không nhúc nhích được nhưng bộ râu vẫn chăm chút sạch sẽ. Ông nói: "Ta chỉ khác đàn bà ở bộ râu." Trông ông lại càng giống triết gia nằm ngủ. Đôi khi thấy khoe khoẻ trong người, ông đùa:
- Sửa soạn cho đẹp lão để xuống dưới ấy gặp bà nó cho đàng hoàng. Thấy xấu bà bỏ đi theo trai thì cô đơn cả kiếp sau, mất đồ cầm tay... Chú Khín nghe vậy nói:
- Ông còn minh mẫn thế, biết khi nào cho chết.
Anh trai tôi nói:
- Ông sống lâu hơn cụ tổ tám năm và hơn ông nội con ba năm.
Cha nghe hết chỉ biết buồn. Ông đi, đương nhiên cha là người đứng đầu dòng họ. Tề gia, trị quốc chỉ việc thứ nhất thôi cha chưa làm được. Cha buồn tôi biết. Đã mấy lần thương anh trai cha buột miệng nói: "Giá mà..."ừ giá mà không có chiến tranh!
Khi ông Tận không còn đưa tay lên vuốt bộ râu được nữa, chú Khín và anh tôi đều nóng lòng vì không biết ý định của ông thế nào. Không thể hỏi trực tiếp được ông, chú làm bộ thiểu não, than thở với cha: "Chẳng lẽ em như vậy anh chưa thương, con đông, nghèo." Cha nghe chú hỏi vậy buồn buồn trả lời: "Chú vẫn không hiểu anh, anh coi chú Tận như cha, anh không có ý đồ. Nếu sau này có gì là của chú cả. Anh xin chú, mấy năm qua thấy chú thay đổi ông đã vui vui. Chắc ông sắp đi, anh mong chú đừng để ông buồn." Cha rút ruột vậy nhưng chú vấn chưa yên lòng, chú bắt cha phải viết những lời ấy vào tờ giấy. May anh trai tôi không biết.( Mà có biết anh cũng không biết cha viết gì, anh có đọc được đâu!) Cha đã viết ra giấy nhưng chú vẫn chưa yên tâm. Khi ông Tận gần đi, chú gào vào tai ông: "ở đâu! Ông để ở đâu?" Ông cấm khẩu không thể trả lời, cố với tay chỉ lên trần nhà. Chú và anh Hinh hai người vội bắc thang thoăn thoắt leo lên, lục lọi hết mọi ngóc ngách, thò tay vào các đầu tranh làm mùn tranh rơi cả xuống chỗ ông nằm. Ông vẫn chưa tắt nghỉn, nhưng mặt đã hết biểu cảm, hai gọt nước mắt trắng như hạt muối khô chảy răn reo trên má, không biết do mùn tranh rớt vào hay một lẽ gì đó. Cha nghiến răng đến bạnh quai hàm, mắt đỏ hoe. Hai người tìm kiếm chán không thấy, tranh nhau tụt xuống chất vấn cha. Không thể kiềm chế hơn được nữa, hai cánh tay như gọng kìm sắt của người cựu đặc công choàng một lúc cả chú Khín và anh Hinh kéo ra sau nhà. Khi đã khuất, ông nghiến răng: Cốp! Hai cái đầu rỗng như trái bí khô chờm nhau. Hai khối thịt trơn xuội như lợn chết dịch đổ vật xuống chân cha. Ông Tận ra đi lúc nào không ai biết. Cũng như lần bà mất, các o về khóc từ ngoài ngõ nhưng lần này chỉ mình cha ngồi nghe. Chú Khín mãi uống rượu cúng ông với mấy con liu điu. Anh trai tôi đang bận mổ thịt con lợn mua rẻ: " Phải mổ mau, chôn xuống đất ngày mai thịt không thâm, hết mùi kháng sinh, bán mới được giá. Thời buổi này thật thà có mà ăn cám!"(Đó là lời nói cửa miệng của anh Hinh.)
Chưa đủ ngày để rước ông về thờ. Cha lập bàn thờ ngay trong nhà ông. Tôi ở xa. Anh Hinh bận. Mẹ và em gái lại hay sợ ma. Hàng ngày, đến bữa cơm, cha đơm một bát đầy sang cúng ông. Sinh thời ông không nghiện rượu, nhưng bữa cơm thường nhấm nháp một vài chén, nên giờ cha cũng để sẵn một chai trên bàn thờ. Chú cũng siêng sang thắp hương cho ông. Thường cứ khi cha khuất lưng là chú sang. Có hôm trời mưa rét, tôi mới về đến ngõ, thấy chú lò dò đội mưa đi, tôi hỏi: "Chú đi đâu mà không đội gì vậy?". Chú giật mình như bị bắt quả tang làm việc bất minh. Không thèm nhìn tôi, chú cộc lốc: "Tao sang thắp cho ông cây hương, mày hỏi làm gì!" Ông mất được mươi ngày thì chú Khín lại sang sinh sự, trên ngực chú nhoang nhoáng cái huy hiệu thương binh. Thấy chú hùng hổ, cha bảo: " Chú cứ đợi hết bốn chín ngày, tôi làm đám rước ông về bên này. Khi ấy nếu không có gì thay đổi, tôi giữ lời hứa giao chú quản lý tất". Chú hậm hực bỏ về ngồi uống rượu đếm ngày. Anh Hinh đoán biết cha và chú đang có âm mưu gì đó, cố tình dò la nhưng không ăn thua. Vợ chồng anh muốn dọn sang ở nhà ông Tận nhưng ngặt nỗi chị mới sinh, ông mới mất nên không dám. Rồi một buổi chiều, anh Hinh đang ngồi cố bán cho hết mấy miếng thịt bụng con lợn nái sề, cha tôi vừa từ nhà ông về thì thấy chú Khín vùng vằng, hung hăng chạy từ nhà ông ra, vừa chạy vừa chửi: "Đồ mất dạy, ông thì ông đánh chết mày này." Chửi xong chú xông vào bợp tai anh Hinh. Không kịp tránh, má phải anh lãnh trọn một cái tát của chú. ở trong nhà nghe lớn tiếng, cha chạy ra đúng lúc con dao pha thịt lợn đang nhằm đầu chú bổ xuống. Cha lao đến hứng trọn, bàn tay trái của cha đứt lợp khợp, từ vết chém, máu phun thẳng, nhuộm đỏ mặt chú Khín và mặt anh Hinh, trông họ như hai con thú đứng xụi lơ trước vòi máu của cha. Rồi không ai bảo ai, hai người bỏ đi về hai hướng. Trước khi quay mặt chú lẩm bẩm: "Mẹ cha nó, đồ mất dạy, dám đái vào chai rượu đặt lên bàn thờ ông Tận."
*
* *
Lời tiên đoán của cha tôi đã đúng. Ngày công an vào tận phòng làm việc đọc lệnh bắt, tôi không ngạc nhiên. Hơn ai hết, tôi biết việc mình làm. Họ kêu án mười năm, hú hồn, cứ tưởng phải dựa cột! Em gái tôi là người đầu tiên đến thăm kể từ ngày thành án. Nó sụt sùi:
- Người ta nói tại anh dịch đường quốc lộ vào phá đình làng.
- Vớ vẩn! Tao làm tao chịu. Chuyện vườn nhà ông Tận sao rồi?
- Hôm bốn chín ngày ông, em ở cử không về, chỉ nghe mẹ kể lại. Mà không biết sao, từ ngày cha bị anh Hinh chém đến giờ, mẹ cứ dở dở người, khi nhớ, khi quên.
- Mẹ kể sao?
- Mẹ nói: Hôm đó tuy tay chưa lành nhưng cha xin phép bệnh viện cho về mấy ngày. Có đầy đủ các o, các dượng cùng về. Các o nói với cha : "Ông chết không để lại di chúc, chúng em chưa giàu nhưng đều có hơn người ở nhà. Mọi việc đất đai, nhà cửa tài sản của ông bà, chúng em không dám lấy. Anh là trưởng, thấy như thế nào cho hợp lý thì nhờ anh." Cha gọi chú đến gần, chú nem nép liếc nhanh vào cánh tay sưng như bắp cày của cha rồi lại cụp mắt xuống. Khi chú đến gần cha nói lớn: "Trước khi mất ông có chỉ lên trên trần nhà, nhưng chú Khín và Hinh tìm không thấy di chúc. Các o đã có lời vậy và tôi đã hứa với chú Khín trước đây, bây giơ tôi xin giao lại toàn bộ cho chú Khín." Cha nói vừa dứt lời thì ông Trình trưởng ban tư pháp xã đạp xe vào ghé sát thềm, ông mở xắc cốt lôi ra một phong bì trước những con mắt tò mò. Nhìn cha, sau đó ông nhìn khắp lượt họ hàng. Vuốt vuốt lại cái cà vạt màu nõn chuối, ông đằng hắng: "Cách đây mấy tháng, cụ Tận có lên xã gặp tôi trao lại cái phong bì này và dặn khi cụ mất, ngày họ hàng làm đám bốn chín ngày, đích thân tôi xuống trao lại phong bì cho đồng chí Lành. Nhưng đồng chí Lành, à quên, tên Lành đang bị công an bắt, nên tôi giao lại cho cha tên Lành, buộc cha tên Lành phải đọc trước tất cả mọi người." Cha nhận lấy, nhờ người bóc hộ rồi đọc rõ: "...Tôi biết, khi tôi chết đi mọi việc sẽ rắc rối, nên nhờ người viết di chúc để lại. Căn nhà tôi và miếng đất giao lại cho cháu Lành, nhưng cháu Lành phải bán đi để làm quỹ khuyến học cho con em trong họ. Nếu cháu có tiền, thì gửi vào ngân hàng làm quỹ khuyến học. Còn đất để lại, vì đất là đất tổ tiên, không nên bán..."Nghe đến đó chú Khín rú lên một tiếng rồi chạy về nhà nằm vật ra phản bất tỉnh, mấy ngày sau dậy ăn được nhưng từ đó câm khẩu không nói được nữa, mắt mờ dần. Đất và nhà hiện vẫn chưa có ai sử dụng.
Mấy tháng sau mẹ lên thăm tôi, tóc cụ bạc nhiều, tai nghểng ngảng, tay run run, gọt quả cam cũng không được. Tôi hỏi:
- Sao cha và anh Hinh không lên thăm con?
- Thằng Hinh mải làm thịt lợn. Còn cha giận anh, không đến thăm đâu. Ông ấy nói biết số anh phải ở tù nhưng vẫn kỳ vọng. Không ngờ anh vô tù thật. Anh đã vậy, nói thằng Hinh mãi nó cũng không chịu nghe, ông đâm phiền chỉ quanh quẩn trong nhà, uống rượu trừ bữa, tóc bạc xơ xác như rơm tuốt .
- Thế nhà và đất ông Tận thế nào rồi?
- Hôm bốn chín ngày ông, cha anh phần vì vết thương cũ tái phát, vết thương mới chưa lành nên không về. Chú Khín làm đám to lắm, các o về rước bài vị của ông vào trong đó thờ. Chú không mời ai bên nhà mình cả, nhưng mẹ để ý, nửa buổi thấy có người trên xã xuống, sau đó nghe chú Khín rú lên, chạy về nhà nằm ốm liệt giường cả tháng, không nói không rằng. Cha anh giữ lời hứa giao lại toàn bộ cho chú Khín nên không còn qua lại. Vợ chồng thằng Hinh thấy chú Khín bị như vậy nên sợ cũng không dám sang ở, thành ra nhà bỏ hoang. Nghe đâu xã đang tính mượn để xây nhà mẫu giáo.
- Sao hôm trước con Lan đến đây, nó nói mẹ kể với nó khác? Mẹ nói ông Tận bảo để lại cho con bán làm quỹ khuyến học.
- Không, mẹ có kể gì đâu, mẹ có kể với nó thật à, mẹ không nhớ, có khuyến học gì đâu.
- Mẹ lẫn thật rồi, chẳng biết thế nào mà lần. Thôi mẹ về đi, hết giờ thăm nuôi, ngồi lâu nó đuổi thì khổ. Cũng đừng lên thăm con nữa, lẩn thẩn xe đâm không ai hầu.
Mẹ khóc, những giọt nước mắt đùng đục như nước gạo chảy răn reo trên má. Mẹ nấn ná ngồi với tôi thêm một lúc nữa, đến khi nghe tiếng quát hách dịch của cán bộ quản giáo mới lập cập gạt nước mắt mà về. Tôi đứng nhìn theo, phía mẹ đi đang ủ một cơn mưa.
*
* *
Tôi ở tù đã được ba năm, ba năm không thấy mặt người thân. Mọi tin tức đều dừng lại phía ngoài song sắt nhà giam. Hôm được gọi lên gặp người nhà, bán tín, bán nghi. "Chắc là mẹ mất!". Tôi hấp tấp chạy lên phòng đón tiếp thấy em gái đang ngồi chờ, thấy nó vui tôi mừng:
- Em về nhà hôm trước, gặp bác tộc trưởng đến tìm họ. Hoá ra cha đã từng là lính của bác ấy thời đánh Mỹ, vậy mà hai người không biết nhau - nó nói một hơi - Nhánh bên ấy phát lắm, toàn người làm to.
- Làm to thì kệ xác họ chứ, mắc gì đến mình.
- Anh lạ, đang gần lắm, mới hai đời.
- Họ vô phúc, giúp được gì nhau. Ra tù tao đổi họ.
- Anh cứ như thế thì em không nói nữa. Họ có làm gì ảnh hưởng đến anh đâu. Anh làm xấu họ thì có.
Nó nói xong ngoay ngảy ra về. Hình như nó thương tôi. Trong tôi cũng dào lên một điều gì đó thật mơ hồ, như là nỗi nhớ nhà.
Bẵng đi một thời gian lâu, vợ chồng, con cái anh Hinh và vợ chồng con cái mấy đứa con nhà chú Khín đến thăm tôi. Mấy đứa nhỏ nghịch như quỷ, chạy ti tích khắp phòng, rồi rủ nhau ra sân. Những bông hoa mười giờ nở đỏ sân trại. Thằng con anh Hinh mới bốn tuổi, dẫn đầu một đàn em lích chích vừa chạy vừa đếm hoa. Chưa đi học mà nó đã đếm được đến số trăm. Tôi vui lây, bảo nó đếm tiếp, nó nem nép:
- Nhiều quá, cháu không đếm hết. Anh Hinh nói:
- Thấy nó sáng dạ mừng nhưng lo, anh không dạy được. Tôi nói:
- Sóng sau đè sóng trước.
- Anh cũng sợ mấy đứa cháu lặp lại cha chú. Anh với mấy đứa lên chào chú để sang bên ấy.
- Kéo nhau đi làm gì một lũ, người ta khinh.
- Bọn anh sang ở hẳn bên ấy. Các bác có trang trại lớn thiếu người nhận bọn anh làm công nhân còn xây nhà cho ở, có trường cho mấy đứa học.
- Còn cha, Chú Khín?
- Tới đây cũng sang luôn. Đất đai chuẩn bị giao lại cho huyện, họ xây trường cấp một hai. Cha nói phải bắt đầu làm lại từ gốc.
Nháo nhào một lúc rồi mọi người kéo nhau về. Trời nắng mà gió hây hẩy. Mấy đứa nhỏ không chịu đội mũ, chúng nói để đầu trần vậy cho mát.
NTH
Nguyễn Thế Hùng
Tạp chí Văn nghệ Quân Đội
Số 4-Lý Nam Đế- Hà Nội
nguyenthehung | 20 October, 2011 13:11
Tôi lỡ giẫm phải con giun
giun oằn mình ứa nhựa
Tôi lỡ giẫm phải con ong
bẹp đầu nọc vẫn còn châm
Tôi lỡ giẫm phải con rắn
quay đầu rắn cắn vào chân
Người ta giẫm lên tôi
im lăng!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
nguyenthehung | 02 August, 2011 18:34
1.
Họ và tên: Nguyễn Thế Hùng
Sinh: 16.1.1972
Quê quán: Sơn Diệm- Hương Sơn- Hà Tĩnh.
Dân tộc: Kinh
Tôn Giáo: Không
Bắt đầu viết văn năm1998
Vào Hội nhà văn Việt Nam năm 2010.
Địa chỉ: Tạp chí Văn nghệ quân đội số 4- Lý Nam Đế- Hà Nội.
2.
Nhập ngũ 1992.
Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam.
Chức vụ hiện nay: Thư ký Tòa soạn. TC. VNQĐ.
Các trường đã qua: Sĩ quan lục quân 2
Trường viết văn Nguyễn Du.
Có 14 năm công tác tai Đồng bằng sông Cửu Long.
3.
Các tập truyện đã in:
Tập truyện ngắn: Đàn chim về sau bão.
Tập truyện ngắn: Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng.
Tập truyện ngắn: Ngược ngàn.
Tập truyện ngắn: Người đi bỏ mặc câu thề.
Tiểu thuyết: Họ vẫn chưa về.
Sắp in: Tập truyện ngắn: Liu điu dòng họ
Tiểu thuyết: Lối nho nhỏ.
4.
Giải thưởng văn học:
Giải nhất truyện ngăn đồng bằng sông Cửu Long cho truyện ngắn Người giữ cồn sau đó truyện được chuyển thể thành kịch bản phim Ngọn đèn bốn mặt đoạt giải thưởng Bộ Quốc phòng.
Giải bút ký văn học Đồng bằng sông Cửu Long
Giả thưởng truyện ngắn báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh
Giải thưởng truyện ngắn TC. VNQĐ cho truyện ngắn Lộc Trời
Giải thưởng liên hiệp hôi VHNT TP Hà Nội cho tiểu thuyết: Họ vẫn chưa về.
và một số giải thưởng nho nhỏ khác.
Nghĩ về nghề văn: Văn như rượu quý, phải làm sao càng để lâu càng thấy ngon. Vì vậy nhà văn như là sự tổng hòa của: Tài nghệ người ủ mấu, men, nước, khí trời, gạo…nơi sinh ra thứ rượu ngon đó.
nguyenthehung | 02 August, 2011 16:07
Đoàn Minh Tâm
Tại thời điểm này, nếu được hỏi rằng “hồn vía” trong truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng nằm ở khía cạnh nào, tôi sẽ trả lời không chút đắn đo đó là nhân vật. Thoạt nhìn, các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng đem lại cho chúng ta cảm giác khá “hỗn tạp”. Chỉ trong vài chục tác phẩm mà xuất hiện tất tần tật các thành phần: Nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, người lính hôm nay, trọc phú…Đây là một việc làm “mạo hiểm” có tính “phiêu lưu” cao vì như chúng ta đều biết viết cho hay về một kiểu nhân vật đã khó, huống hồ mà mười mấy kiểu, rất dễ dẫn đến tình trạng nhợt nhạt, chìm vào quên lãng. Tuy nhiên đọc kỹ lại từ góc nhìn loại hình học, chúng ta thấy Nguyễn Thế Hùng chỉ tập trung vào một kiểu nhân vật duy nhất: Nhân vật bản năng. Nói đến bản năng, trước nhất phải nói đến vấn đề tính dục. Và có thể nói Nguyễn Thế Hùng rất “lão luyện” trong việc miêu tả nỗi thèm khát bản năng của những nhân vật khác nhau về giới tính và tuổi tác. Với người con trai trưởng thành, anh tập trung vào những chi tiết nóng bỏng thể hiện cái khát dục không thể kìm nén của họ. Nhân vật tôi (Lộc trời) không cưỡng nổi sự tò mò giới tính của tuổi mười tám đôi mươi nên đã tìm đến gái làng chơi để tìm hiểu những khoái cảm ân ái, mây mưa. Nhà văn Bóp Bi, anh chủ tịch xã Thực Lễ (Những người nổi tiếng) khi thấy vẻ đẹp con gái mơn mởn của Mận người đè ra toan cưỡng hiếp, người đòi quan hệ để đổi lấy tấm giấy chứng nhận mà không hề điếm xỉa gì đến mối quan hệ đồng nghiệp, anh em con thầy con trò. Nhà văn Hách (Bản thảo bị xé) mặc dù có vợ con đang hoàng nhưng khi ở trong phòng không với một người con gái đẹp cũng đành “có lỗi” với u nó ở quê. Bố cu Cò (Sen trái mùa) hễ cứ có thời gian rảnh lại bế mẹ cu Cò vào buồng trong làm chuyện “vợ chồng” để “tái tạo sức lao động và chiến đấu”. Nhân vật tôi (Đêm sang mùa) trong đêm tối đã đòi bằng được người mình yêu trao cho mình cái ngàn vàng của người con gái. Với những cậu thanh thiếu niên mới bắt đầu “trổ mã”, Nguyễn Thế Hùng lại chú ý đến những ám ảnh giới tính. Đây là điều hợp lý vì độ tuổi này đang có sự thay đổi về tâm sinh lý cũng như thể chất. Tình dục ở độ tuổi này là sự hòa trộn giữa nhu cầu và sự khát khao tìm hiểu, khám phá chứ không đơn thuần mang tính thỏa mãn như ở độ tuổi trưởng thành. Tôi (Chuyến ngược ngàn) lúc còn nhỏ tuổi đã bị ám ảnh bởi sắc đẹp của chị Linh. Sự ám ảnh trong tôi lớn đến nỗi sau này tôi không thể ân ái với người mình yêu vì hình ảnh chị Linh cứ hiển hiện trong đầu. Nhân vật tôi (Đàn chim về sau bão) cũng bị sắc đẹp, bị những cuộc ân ái giữa chị Thơm và người tình theo vào từng bữa cơm, giấc ngủ trong suốt một đời. Miêu tả đời sống tình dục của nhân vật nam ở độ tuổi trung niên, Nguyễn Thế Hùng chú trọng nhiều đến yếu tố cảm xúc. Ông Hào (Hoa thủy sinh) lúc Hân đến xin một đứa con đã không vồ vập ngay lấy như với Thủy – thời còn trai trẻ - mà đã có một khoảng lặng cần thiết để cân nhắc mọi thứ hơn thiệt trước khi không nỡ lòng nào “từ chối”.… Không chỉ nhân vật nam mà những người phụ nữ của Nguyễn Thế Hùng cũng có nhu cầu sinh lý rất mạnh. Mặc dù có chồng đang rất sung sức, nhưng vợ cậu Suy (Người về làng Lòi) vẫn khát khao sự lịch lãm của ông Bình và cứ thứ bảy nào mợ cũng đi chùa để rồi tranh thủ “vào thăm” nhà ông bạn ở thành phố về. Người yêu nhân vật tôi (Chuyến ngược ngàn) đã bỏ tôi vì ngỡ tôi sinh lý yếu, không đáp ứng được nhu cầu của mình. Len (Khu độc thân) khi chồng đi công tác xa dài ngày cũng rậm rực trong người không yên, hàng đêm phải ra giếng tắm…
Với những nhân vật hừng hực sức sống xuất hiện trên khắp các trang giấy, nên không ngạc nhiên khi chúng ta bắt gặp trong hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Thế Hùng đều có những cảnh ân ái. Thậm chí có những cảnh mang màu sắc huyễn dị như người ân ái với nấm mồ trong truyện ngắn Theo suốt một đời. Tuy nhiên những cảnh ân ái này không phải là những pha “câu khách rẻ tiền” mà chúng mang trong mình chức năng quan trọng. Về phương diện kết cấu, theo khảo sát của chúng tôi, ở hầu hết các truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng trước khi có hành vi tính dục, cuộc đời các nhân vật ở một giai đoạn khác, sau khi có hành vi tính dục, cuộc đời của họ chuyển sang một bước ngoặt hoàn toàn mới, kéo theo sự phát triển của toàn câu chuyện. Trước khi quan hệ với bà chủ nhà, nhân vật tôi (Nhớ về ăn nhãn đầu mùa) tràn đầy nghị lực, quyết tâm bám trụ bằng được ở thành thị. Nhưng khi nếm trải trái cấm tôi mất hết ý chí vươn lên trở thành một kẻ “ăn bám”, rồi một ngày cay đắng nhận ra rằng mình chỉ là đồ chơi của người đàn bà dâm đãng. Tôi thấy ghê tởm thành thị muốn về quê. Lúc Thành (Những con sóng dồn đuổi) chứng kiến cảnh vợ mình quan hệ với lão phối giống bò ở trạm phối giống thì hạnh phúc gia đình anh tan vỡ. Vợ Thành phải đi xuất khẩu lao động biệt xứ, Thành dù muốn nhưng không thể tha thứ cho vợ. Một vài dẫn chứng ở trên cho chúng ta thấy rằng Nguyễn Thế Hùng không cho nhân vật mình ân ái chỉ để ân ái đơn thuần. Không chỉ đóng vai trò về kết cấu, ẩn đằng sau những mây mưa khoái lạc đó, còn là một hệ thống mã nghệ thuật. Với người phụ nữ, những cảnh ân ái trong các truyện ngắn Hoa thủy sinh, Chuyến ngược ngàn, Đàn chim về sau bão, Đêm sang mùa… gợi nên những thân phận, những khát khao chính đáng của họ. Những người đàn bà tìm đến ông Hào trong truyện ngắn Hoa thủy sinh không phải để thỏa mãn nhu cầu tình dục mà chỉ để xin một đứa con cho cuộc sống đỡ hưu quanh sau này. Đặt trong bối cảnh toàn bộ con trai ra trận hết, ở hậu phương chỉ toàn phụ nữ với nhau hành động ân ái đó nhằm gợi nên sự xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ trong lòng bạn đọc. Những cảnh mây mưa trong các truyện ngắn Đêm sang mùa, Chuyến ngược ngàn là biểu hiện cao nhất của tình yêu. Người phụ nữ trao thân như một minh chứng cho tình yêu mình dành cho người đàn ông của đời mình mà không hề hay biết về những trắc trở, gập ghềnh của tình yêu đang đợi mình ở phía trước. Còn với người đàn ông, hệ thống mã nghệ thuật này phức tạp hơn, nó được xây dựng trên lõi chung là sự khuất phục của nhân vật trước bản năng ghê gớm nhất của con người trong những trường hợp họ cần sự tỉnh táo, cần một điểm dừng. Trên lõi chung ấy, tùy vào từng trường hợp cụ thể lại cho ra một “biến thể” nghệ thuật khác nhau. Ngày tôi (Lộc trời) dám cãi luật của người nuôi hươu, dám làm trái nề nếp gia phong của gia đình đi gian díu với gái bán hoa cũng là ngày gia đình tôi suy sụp: hươu không chịu nhú lộc, ông nội mất vì trọng bệnh, gia đình ly tán. Cũng đồng cảnh ngộ ngày gia đình cậu Suy, cậu Thoái (Người về làng Lòi) điên loạn vì chuyện trai gái cũng là ngày gia đình họ nghiêng ngả, điên loạn và tan nát. Những hệ lụy ghê gớm mà nhân vật tôi cùng gia đình cậu Suy, cậu Thoái phải gánh chịu ấy là lời cảnh báo nghiêm khắc của tác giả cho những ai định đem hạnh phúc gia đình ra đùa với thói trăng hoa. Khi ông Hào (Hoa thủy sinh) quan hệ với Thủy, Hân rồi bỏ mặc họ thì ông không ngờ rằng mình là tác nhân của tội lỗi loạn luân sau này khi hai đứa con riêng của ông với hai người phụ nữ lại thành thân với nhau. Những người đàn ông không thắng được cám dỗ nguyên thủy trong truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng đều có kết cục bi kịch. Ở chiều hướng ngược lại, những người kìm chế thành công cơn “thèm khát” lẫn nhau như tôi và Len (Khu độc thân) sau cùng lại có được hạnh phúc và sự tôn trọng từ phía người thân, đồng nghiệp. Hai số phận trái ngược nhau của người đàn ông về việc bước hay không bước qua lằn ranh giới mong manh giữa bản năng và thể xác như hai cánh cung khép lại thành vòng tròn ý niệm kín đáo rằng chỉ khi vượt qua cám dỗ nguyên thủy con người ta mới có được cuộc đời dành cho “hoa thơm và trái ngọt”. Sướng thân một lúc, đau khổ cả đời, hãy nghĩ kỹ trước khi hành động. Đó lời nhắn nhủ mà Nguyễn Thế Hùng gửi đến những người đàn ông qua tác phẩm của mình.
Với cây bút truyện ngắn nà tạo cho người đọc nhớ đến một nét riêng trong sáng tác như Nguyễn Thế Hùng, tôi nghĩ là thành công rồi.
Đ.M.T
nguyenthehung | 29 July, 2011 20:17
. Nguyễn Thế Hùng.
Thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có những bài viết, bài trả lời phỏng vấn về nguy cơ văn chương bạc màu áo lính. Trong các bài viết đó, các tác giả đã đưa ra những lập luận, nhưng lý giải, dẫn chứng về những nguyên nhân dẫn đến văn chương bạc màu áo lính như hiện nay. Bên cạnh đó cũng có những bài viết muốn khẳng định rằng hoàn toàn không có chuyện văn chương bạc màu áo lính, đội ngũ nhà văn trẻ trong quân đội đang vô cùng dồi dào, sung sức và vẫn đang còn măn mà, viết hay, viết khỏe, viết tốt về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng, đề tài người lính hôm nay. Để đi đến kết luận bạc hay không bạc màu áo lính trong văn chương hiện nay chắc phải cần đến các cuộc hội thảo, các cuộc khảo sát, các phân tích “lạnh lùng”, nghiêm khắc của khoa học. Nhưng có một điều mà ai cũng dễ dàng nhận thấy là về đội ngũ người lính khoác áo nhà văn trong lực lượng viết văn trẻ Quân đội hiện nay so với trước đây là quá ít. Điều đó đồng nghĩa với việc những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính hôm nay cũng quá ít so với thời gian trước. Chiến tranh đã lùi xa, nên sự sụt giảm đội ngũ người lính khoác áo nhà văn và các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng là một điều dễ hiểu. Nhưng giảm như thế nào là vừa? Giảm như hiện nay đã đến hồi báo động chưa? Và làm thế nào để tăng thêm đội ngũ những người lính khoác áo nhà văn trong tương lai? Những câu hỏi trên chắc chắn cũng đã nằm trong đầu những người làm công tác quản lý, những nhà hoạch định chính sách và cả với những nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình, bạn đọc…những người có trách nhiệm, quan tâm, tâm huyết, thủy chung với đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Với tư cách là một người lính, người viết trưởng thành từ đơn vị cơ sở, tôi thấy đã đến lúc chúng ta cần có những giải pháp cấp bách, và lâu dài để đào tạo thêm nhiều hơn nữa những người lính khoác áo nhà văn. Nói như vậy không có nghĩa là từ trước đến nay chúng ta không đào tạo, không phát hiện mà điều muốn nói rằng chúng ta cần phải xem xét lại cung cách cũng như những hình thức phát hiên, đào tạo nhà văn trước đây chúng ta đã áp dụng, những hình thức đúng, khoa học, hữu ích vẫn còn phù hợp với tình hình hiện nay thì chúng ta nên giữ, phát huy và bổ sung, còn những hình thức đào tạo không còn phù hợp thì nên thay thế bằng những hình thức đào tạo khác.
Từ trước đến nay để bồi dưỡng và đào tạo những người lính viết văn Quân đội đã mở các trại viết (Trại viết Văn nghệ quân đội(VNQĐ), Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội, Gương điển hình tiên tiến, Bút ký, Phóng sự…), các lớp bồi dưỡng ngắn hạn và đi học dài hạn chuyên nghành viết văn ở các trường đại học. Có thể thấy rằng ở tất cả các hình thức đào tạo trên, chúng ta đã có được một đội ngũ nhà văn Quân đội như hiện nay. Hay nói một cách khác là tất cả những nhà văn quân đội hiện nay không ít lần thì nhiều lần đã được rèn luyện qua một hay những hình thức đào tạo của Quân đội. Điều đó chứng tỏ Quân đội đã có những bước đi sớm và đúng cho việc bồi dưỡng, đào tạo nhằm bổ sung nguồn nhà văn kế cận. Nhưng một thực tế là cho đến nay chúng ta vẫn đào tạo được quá ít những người lính khoác áo nhà văn nên việc tuyển dụng thêm những nhà văn bên ngoài vào Quân đội và họ trở thành những nhà văn khoác áo lính như hiện nay là tất yếu. Việc tuyển dụng đó vừa là để bổ sung lực lượng thiếu hụt và vừa để thực hiện chính sách thu hút nhân tài của Quân đội. Còn khi vào Quân đội rồi họ được đào tạo lại và sử dụng như thế nào để phát huy tài năng sáng tạo trong môi trường đặc thù là làm công tác văn hóa văn nghệ trong Quân đội lại là một bài toán cần giải khác.
Thực trạng:
Hàng năm Tạp chí VNQĐ vẫn mở các trại viết, nhưng những trại viết đó đều là trại sáng tác chuyện nghiệp, có nghĩa là trại viên được mời đi dự trại ít nhiều đã có những tác phẩm có chất lượng mà dưới con mắt của ban biên tập là họ có thể sẽ trở thành những cây bút chuyên nghiệp, sẽ là những cộng tác viên tiềm năng, những biên tập viên, phóng viên…sau này của VNQĐ. Đội ngũ này cho đến nay trong toàn quân đếm chưa đủ mười đầu ngón tay, nhiều khi VNQĐ cũng muốn hạ chuẩn xuống để phát hiện thêm những cây viết có le lói chút tiềm năng nhưng lực bất tòng tâm vì muốn làm được điều đó đòi hỏi đến kinh phí, thời gian, nhân lực(giáo viên), vật chất bảo đảm… mà tất cả những thứ đó thì đều là…rất khó. Ngoài các trại viết chuyên nghiệp của VNQĐ mở, các trại viết còn lại đều do Cục Tuyên huấn mở. Những trại viết này mới chỉ nhìn qua tên gọi chúng ta đã biết, đó không phải là những trại sáng tác mà thực chất là trại viết người thật việc thật(trừ các trại viết ở các chuyên ngành nghệ thuật khác bài viết này không đề cập tới) vì vậy nếu nhìn nhận một cách khách quan thì chỉ có trại Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội là gần với văn chương nhất và thực tế chứng minh đã có khá nhiều nhà văn quân đội hiện nay như Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng(VNQĐ) Nguyễn Xuân Thủy(Nhà XBQĐ), Quỳnh Vân(PK-KQ), Hồ Kiên Giang, Hồng Bỉnh Hiếu(QK9), Trần Hoài(Báo QĐ), Trần Đức Tĩnh(QĐ I)… đi lên từ những trại viết Kỷ niệm sâu sắc. Còn lại các trại viết khác hình như vắng bóng các nhà văn. Ngoài các trại viết, cách đây đã hơn mười năm VNQĐ và Tổng cục chính trị có mở lớp bồi dưỡng Viết văn khóa một với thời gian ba tháng, đây là một mô hình tốt và thiết thực được ví như là một cuộc hội quân thứ ba trong lĩnh vực văn học nghệ thuật toàn quân. Lớp bồi dưỡng đó đã tạo đà cho khá nhiều nhà văn đã đang viết khá sung sức hiện nay như Phùng Văn Khai, Thái Nam Anh Nguyễn Đình Tú(VNQĐ), Hồ Kiên Giang(QK9), Quỳnh Vân(PK-KQ), Viễn Sơn(QKI), Lê Phi Hùng, Trọng Thiết, Trần Hoài(Báo QĐ), Nguyễn Tiến Hải(NXBQĐ), Bùi Thanh Minh(Cục Tuyên Huấn), Nguyễn Anh Nông, Phùng Kim Trọng, Thôn Trung Phương(Điện ảnh QĐ),… tiếc rằng đã hơn mười năm rồi vẫn chưa có lớp bồi dưỡng Viết văn khóa hai được mở. Còn đi học dài hạn thì có Trường viết viết Nguyễn Du, những khóa trước Quân đội tham gia còn đông và đa số họ đều trở thành những nhà văn tên tuổi trong làng văn hiện nay như Hữu Thỉnh, Chu Lai, Trần Đăng Khoa, Khuất Quang Thụy, Trung Trung đỉnh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bình Phương… nhưng càng về sau càng thưa vắng bóng áo lính trên giảng đường Viết văn Nguyễn Du. Mười năm trở lại đây toàn quân chỉ có sáu người thi đậu và đi học. Sự teo tóp số lượng hiện lên rất rõ, khóa sáu trường Nguyễn Du có ba quân nhân thi đậu và đi học, khóa bảy có hai và khóa tám chỉ còn một, đến khóa chín không có quân nhân nào theo học vì có lớp Viết văn ở trường Đại học Nghệ thuật quân đội. Đồng hành với bốn năm học của lớp Viết văn khóa một ở trường Đại học Nghệ thật quân đội là hai cuộc thi truyện ngắn và thơ trên VNQĐ. Đây thực sự là một may mắn và cũng là một thách thức cho mười học viên khoác áo lính muốn đi từ lý thuyết sang thực hành, một cơ hội hiếm có để họ tự khẳng định mình trên con đường văn chương nghệ thuật. Nhưng mặc cho sự chờ đợi mỏi mắt của những người tổ chức cuộc thi đến ngày xét giải cũng chỉ có vỏn vẹn ba truyện ngắn của các học viên gửi sang được đăng nhưng dù có để ý cân nhắc, nâng lên đặt xuống thì vẫn không thể nào trao giải được. Cuộc thi Thơ gần đến hồi kết vẫn chưa thấy le lói giải thưởng từ các học viên Lớp viết văn khóa một.
Bài giải:
Để giải quyết vấn đề thiếu hụt trước mắt, cách nhanh nhất vẫn là mở các trại viết. Ngoài các trại viết ngắn ngày như của VNQĐ hay Cục Tuyên huấn đã mở, rất cần có Lớp bồi dưỡng viết văn khóa hai, vì đây thực sự là một lớp tạo nguồn hữu ích, nó kết hợp được giữa các trại viết chuyên nghiệp của VNQĐ và trại viết Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội của Cục Tuyên huấn. Học viên được tập trung về lớp có cả những người đã viết tốt, lấp lánh tài năng và có cả những người vừa mới chỉ có năng khiếu văn chương. Học viên về đây, hai tháng đầu được tổ chức học tập trung, ngoài các nhà lý luận nổi tiếng đến thỉnh giảng, lớp còn được nghe các nhà văn khoác áo lính và các nhà văn nổi tiếng truyền đạt, tâm sự về nghề. Sau hai tháng là thời gian đi thực tế ( đi theo nhóm, có người hướng dẫn chọn đề tài, cách tiếp cận) và sau đó là về ngồi viết và được các nhà văn đàn anh đọc, chỉnh từng trang bản thảo một, chính nhờ cách bồi dưỡng đúng hướng đó mà sau trại viết đã nâng tầm rất nhiều cây viết trẻ trong quân đội từ cây viết phong trào tiến thẳng lên chuyên nghiệp và không ít người nay đã trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt nam như Bùi Thanh Minh, Phạm Thanh Khương, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Tiến Hải…
Trại viết là để giải quyết vấn đề trước mắt, còn lâu dài vẫn cần có các lớp đào tạo chính quy, dài hạn, nhà văn vẫn cần được trang bị kiến thức một cách bài bản, sâu và rộng. Từ ngày Trường đại học Nghệ thuật Quân đội có khoa Điện ảnh- Sân khấu – Viết văn, các học viên trong Quân đội có năng khiếu muốn đi học không còn phải thi vào trường ngoài nữa, đây là một thuận lợi rất lớn cho cả người dạy và người học. Tiếc rằng hình như chúng ta mới chỉ tính được làm các nào để có lớp có khoa Viết văn chứ chưa tìm được cách làm thế nào để đào tạo cho được những học viên viết văn mang đậm phong cách lính. Đây là bài toán khó đòi hỏi các thầy cô giáo ở nhà trường phải có thời gian và công sức kể cả kinh phí để tìm cách giải. Nếu nhà trường không đào tạo được những người viết mang tính đặc thù Quân đội mà chỉ nhang nhác, thậm chí là chất lượng còn không bằng các học viên của Trường viết văn Nguyễn Du trước đây, thì lớp Viết văn của trường không còn cớ để tồn tại, cũng như nếu VNQĐ, Báo Quân đội nhân dân, Điện ảnh quân đôi…đánh mất đi chất lính của mình thì các cơ quan đó cũng không còn cái cớ gì để mà tồn tại nữa. Đây là bài toán khó, nhưng không phải là không có cách giải nếu những người có trách nhiệm thực sự quan tâm.
Trước hết về vấn đề con người.
Về người quản lý: Nhất thiết phải có một người lính nhà văn, hoặc một nhà lý luận phê bình tên tuổi về làm công tác quản lý khoa Điện ảnh- Sân khấu- Viết văn. Người quản lý này vừa là người thầy nhưng đồng thời cũng là bạn viết của các học viên.
Về nguồn học viên: Vẫn tiếp tục phát hiện các cây viết có triển vọng trong toàn quân cho đi học, bên cạnh đó có một bộ phận theo dõi qua các cuộc thi văn học lớn của các báo, tạp chí để tìm người tài và mời họ về trường mình học( điều này nhạc sĩ An Thuyên đã làm đối với các ca sĩ đoạt giải cao qua các cuộc thi Sao Mai).
Chương trình đào tạo:
Ngoài các chương trình đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục, đối với các học viên diện dân sự nếu có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong Quân đội thì buộc phải đi học tạo nguồn như các học viên dân sự thi vào trường quân sự khác. Nhà trường, Tạp chí VNQĐ và Phòng Văn hóa văn nghệ - cục Tuyên Huấn có sự ký kết nội dung cũng như hình thức, cách tiến hành đào tạo. Mô hình này gần giống với mô hình của Viện quân y 103 với Học viện quân y.( Muốn làm được điều này, buộc phải có biểu biên chế mới, bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ và tạo điều kiện cho Tạp chí VNQĐ ra lại tờ Phụ san như trước đây). Quá trình học, học viên được biên chế (dự nhiệm) về các ban chuyên môn ở Tạp chí VNQĐ. Theo thời gian, các nội dung, chương trình và cách tiến hành có thể được thay đổi thêm cho phù hợp với tình hình thực tế, nhưng thiết nghĩ rằng nếu chúng ta làm được những điều trên thì từng bước sẽ khắc phục được tình trạng thiếu hụt nguồn người lính khoác áo nhà văn như hiện nay nay.
N.T.H
nguyenthehung | 21 July, 2011 15:40
NGUYỄN THANH TÚ
Nguyễn Thế Hùng được dư luận chú ý từ khi được nhận giải cao trên Văn nghệ quân đội với truyện ngắn Lộc giời(2006), trước đó anh còn nhận nhiều giải thưởng văn học khác như Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 2004 -2005, Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn Hội Văn học nghệ thuật Thành phố Cần Thơ năm 2000, Giải Ba cuộc thi của báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh năm 2000. Gần đây nhất ( 2009), anh được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải cao cho tiểu thuyết Họ vẫn chưa về. Chưa bàn tới tiểu thuyết được viết theo bút pháp lạ hoá mời gọi lôi kéo của anh, ở bài viết này tôi xin giới thiệu truyện ngắn, mà theo tôi tác giả có những nét riêng đáng chú ý được thể hiện trong 4 tập: Đàn chim về sau bão, Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng, Ngược ngàn và Người đi bỏ mặc câu thề.
Nguyễn Thế Hùng vẫn viết truyện theo lối cổ điển với truyện có truyện, mỗi truyện đựợc xây dựng trên một mâu thuẫn xung đột nào đấy. Đó là xung đột quá khứ và hiện tại, giữa đạo đức và những khao khát bản năng, giữa phong tục tập quán ngàn đời và văn minh đô thị hôm nay (Lộc trời). Là tình yêu chân chính, là hạnh phúc vợ chồng với cuộc sống nghèo khó tăm tối (Những con sóng dồn đuổi); là tình yêu thánh thiện, lý tưởng với sự phồn tạp vặt vãnh của đời thường (Người ở Cồn Thương); là những khát vọng yêu thương và chiến tranh hủy diệt (Sen trái mùa); là tình yêu với những hứa hẹn “thề non hẹn biển” với những cái tréo ngoe không thể lường tới (Tròng trành thuyền thúng); là chuyện “Ăn của rừng” mà “rưng rưng nước mắt” (Rừng thiêng).
... Mỗi truyện ở đây là một bi kịch, từ bi kịch đó bắt người ta phải suy ngẫm, phải trăn trở về những vấn đề mà nó đặt ra.
Truyện ngắn có cốt truyện thường chặt chẽ, dễ nhớ, dễ kể lại nhưng khó hay bởi từ những hệ thống sự kiện được kể, tác giả phải hướng người đọc tới một ý nghĩa nào đó. Nó không đơn thuần kể để mà kể, kể cái gì, kể như thế nào mà vượt thoát ra ngoài những cái thông thường ấy để gửi vào đó thông điệp của nhà văn. Cho nên không nên nói thể loại thơ mới có thể là nơi để nhà thơ ký thác tâm hồn, mà văn học nói chung đều có thể như vậy. Tôi thấy Nguyễn Thế Hùng bước đầu đã có những hứa hẹn về sự “vượt thoát” ấy. Hiểu theo nghĩa này thì Lộc trời là tiếng nói cảnh tỉnh: phải biết lưu giữ, quí trọng truyền thống văn hóa tốt đẹp; phải biết giữ trong sạch đừng để những điều uế tạp ngoài đời ngấm vào con người mình. Những con sóng dồn đuổi là niềm tin về con người không chịu đầu hàng số phận. Chính tình yêu gia đình mới là điểm tựa vững chắc nhất để con người ta vượt mọi khó khăn. Người ở Cồn Thương là bài học về cách nhìn người không thể qua hiện tượng mà phải đi sâu vào bản chất bằng cách cắt nghĩa lịch sử. Sen trái mùa là niềm tin, là sức sống bất diệt của tình yêu. Tình yêu mãi là nguồn mạch năng lượng vô tận để con người ta sống và vươn lên trong những hoàn cảnh bi thương nhất...
Tôi thích những truyện tác giả dùng ngôi thứ nhất xưng “tôi” để kể hơn là những truyện được kể ở ngôi thứ ba. Vì người kể chuyện xưng “tôi” thường là một thanh niên mới lớn hoặc đến tuổi trưởng thành nhưng chưa lập gia đình nên đã đem vào truyện một cái nhìn trẻ, một giọng điệu trẻ. Vì còn vô tư, chưa giàu kinh nghiệm sống nên người kể còn nhìn đời bằng sự hồn nhiên, trong trẻo. Phải là một thanh niên “trẻ người non dạ” chưa va chạm nhiều, mạnh về bản năng, hiếu thắng mới kể ra được câu chuyện Lộc trời. Phải là một chàng trai chưa vợ mới có câu chuyện ân ái trong giấc mơ nồng nàn, đắm say, nguyên sơ, ngỡ ngàng, đầy chất nhục dục nhưng cũng rất thánh thiện như trong Chuyến ngược ngàn. Phải là người “độc thân” kể thì bạn đọc mới thấy cái “khu độc thân” ấy lắm chuyện, đa dạng và sinh động như thế (Khu độc thân)...
Phần lớn bối cảnh truyện Nguyễn Thế Hùng là không gian xa lạ với văn minh đô thị, mà thường là nơi miền núi xa xôi, nơi miền quê sơn cước hẻo lánh, nơi đồng bằng miệt vườn phương Nam vắng vẻ. Ngay tên các truyện cũng nói lên điều này: Những con sóng dồn đuổi, Chuyến ngược ngàn, Người ở Cồn Thương, Người về làng Lòi, Gió đồng bưng, Đàn chim về sau bão... Khi mà quá trình đô thị hóa đang diễn ra chóng mặt, cùng với mặt trái cơ chế thị trường đang hoành hành, khi mà các giá trị đạo đức truyền thống đang bị mai một, và nhất là văn hóa môi sinh đang bị xuống cấp thì truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng lại đưa ta trở về với cái êm đềm của làng quê nguồn cội, cái nhẹ nhàng tinh khiết của gió nội hương đồng, cái tha thiết của tình người..., ta lại thấy nhớ tiếc một không gian văn hóa ngày xa. Ta ao ước một điều, cứ thị trường hóa, cứ đô thị hóa, càng nhanh càng tốt nhưng sao đừng để mất đi những gì đã có từ ngàn đời nay...
Cái duyên trong lời văn Nguyễn Thế Hùng là cách miêu tả có hồn vía, không chỉ miêu tả đối tượng mà luôn gắn vào đó cái nhìn của nhân vật, tâm trạng của nhân vật. Câu văn “Lộc non mưng mửng sắc tình” (Lộc trời) vừa là cảnh bình minh tươi tắn vừa là tâm trạng được thỏa mãn bản năng của một chàng trai vừa “được làm đàn ông”. “Trăng gầy giơ xương như cái gạc hươu già phẩy lên nền trời một dấu hỏi” (Những con sóng dồn đuổi), vừa là tả cảnh trăng cuối tháng già nua vừa nói được nghề nghiệp của nhân vật (nuôi hươu) cũng là tả tâm trạng băn khoăn, bồn chồn, day dứt của nhân vật đang ở thế bị phá sản, đổ vỡ. Có khi để nói về hiện tượng A nhà văn lại tả hiện tượng B: “Đại ngàn rung chuyển. Cây cối ngả nghiêng, suối sùi bọt trắng hổn hển thở. Trăng xấu hổ giấu mặt trong mây, dòng nước cuồn cuộn ghì xiết ghềnh đá. Đá vặn mình răng rắc. Rừng động, muông thú túa ra nhảy múa hoan ca...” (Chuyến ngược ngàn). Tả cảnh thiên nhiên nhưng người đọc lại thấy hiện lên một cuộc tình đang độ “mây mưa” nồng nàn đắm đuối của con người. Tả thế là khéo, không lộ, không tục mà vẫn hấp dẫn.
Tôi tin tác giả với những điểm khởi đầu như vậy sẽ còn đi được xa...
Những điều tôi thấy chưa được là những truyện được kể ở ngôi thứ ba thường không hay bằng truyện được kể ở ngôi thứ nhất. Có thể coi đây là một hạn chế về vốn sống chăng? Khi điểm nhìn người kể là điểm nhìn của cái “tôi” thì thường là nhà văn lấy con người mình ra để kể, mình biết, mình hiểu, mình nhập thân vào từng nhân vật, vào từng chi tiết, sự kiện nên chủ động làm chủ lời văn. Còn đặt điểm nhìn ở ngôi thứ ba, nhà văn khó “chỉ huy” đội quân câu chữ hơn rất nhiều bởi nhà văn là người đứng ngoài cuộc để “điều binh khiển tướng”, đặt nhân vật này, chi tiết nọ, sự việc kia vào từng vị trí. Nếu không “cao tay ấn” người kể sẽ rất dễ bị bọn “âm binh” chữ nghĩa nổi loạn. Tôi thấy truyện của Nguyễn Thế Hùng là rất tiêu biểu cho trường hợp này. Có truyện cốt bị loãng, lời văn nặng về đối thoại, có gì nói ra hết làm cho truyện không có một dư âm cần thiết (Bản thảo bị xé), có truyện hơi dài về dung lượng làm cho kết cấu bị loãng, thiếu đi một sự hàm súc ngắn gọn chặt chẽ của đặc trưng truyện ngắn (Người về làng Lòi, Gió đồng bưng), có truyện viết theo lối hoạt kê nhưng do có quá nhiều sự kiện, chi tiết, nên tiếng cười vì được hướng vào nhiều đối tượng nên bị loãng ra (Những người nổi tiếng)...
Với kinh nghiệm của một người đọc, tôi cho rằng Nguyễn Thế Hùng hứa hẹn một bút lực văn xuôi mới mẻ trong những ngày không xa.
nguyenthehung | 21 June, 2011 08:01
.Người xưa có câu: “Con nhà công không giống lông cũng giống cánh” nếu chỉ hiểu theo một nghĩa thì câu nói trên dùng để nói về mặt ngoại hình của con cái không giống cha mẹ khuôn mặt thì cũng sẽ giống dáng người, đôi mắt hay làn da…cha mẹ đã để lại cho con hình hài vóc dáng, để mỗi khi đi ra đường, khi nhìn một đưa trẻ con người làng dễ nhận ra chúng là con cái nhà ai trong xóm dù mới chỉ gặp đưa bé lần đầu. Người làm cha làm mẹ nào cũng muốn để lại cho con mình những điều tốt đẹp nhất. Người làm cha lem mẹ chắc chắn sẽ thấy hạnh phúc hơn nhiều khi thấy con cái có nhiều neyt giống mình, tất nhiên là giống những nét đẹp nhất của mình, còn nếu người cha không may bị thọt chân thì khi vợ mang thai chắc chắn anh ta sẽ luôn mong ước làm sao khi vợ sinh , con mình hai chân được bằng nhau, mẹ bị sứt môi cũng luôn cầu thánh thần phù hộ cho con mình đừng có sứt môi giống minh. Ta đã gặp khá nhiều trường hợp“ mẹ cú con tiên, cha quốc con công” có một sự bí ẩn nào đó của đứng tạo hóa, hay ân đức của cha mẹ đã kêu thấu cõi nên sinh được những thiên thần?! Về tính cách cũng thế, ông bố bà mẹ nào cũng mong con cái mình học giỏi, lễ phép, kính thầy yêu bạn và chắc chắn không ai muốn nghe những câu chửi tục phát ra từ miệng con cái mình. Nhưng có một điều sống trên đời không ai là không có những giây phú bực dọc, ở cơ quan thì bực dọc với sếp, ra đường thì bực dọc với nạn ùm tắc giao thông…những bực dọc đó được dịp nhân lên khi về nhà thấy bộ mặt đưa đám của vợ và sự tinh nghịch, hiếu động hơi thái quá của cậu con, thế là lửa đã gọi thêm lửa vào người, nhẹ thì quát mắng, nặng hơn thì vừa quát vừa đánh con và không ít ông bố đã xả “Xu-páp” bằng những câu chửi tục. Ông bố bà mẹ nào cũng nghĩ rằng mình có quyền được quát mắng con cái, mình đang dạy dỗ con để chúng nên người cơ mà, thương con thỉ phải cho roi cho vọt, ghét con mới cho ngọt cho bùi chứ, phải đánh, phải chửi, phải ràn chứ không sau này chúng nó làm giặc cả a? thế là đánh, là quát, là mắng, là chửi. Sóng âm thanh đi rất nhanh và con viruts chửi, viruts mạt sát, viruts nói tục, viruts cay nghiệt lây qua đường sóng âm thanh. Ngay lập tức chúng sẽ chạy thẳng từ miệng ông bố sang tai thằng con đang bị “dạy” và lây tiếp sang những đứa con khác và các thành viên trong gia đình. Những con Viruts trên lây nhanh mà khó chữa, khó chữa bởi chính người gieo rắc viruts lại chính là người có tầm ảnh hưởng, có quyền uy nhất trong gia đình. Vì chưa có thuốc đặc trị, vì sự lây lan nhanh chóng nên nó lại chạy ra đằng miệng thằng con để sang tai thầy cô, bạn bè, hàng xóm láng giềng và chắc chắn đến một lúc nào đó nó sẽ chạy về tai của bố mẹ, ông bà nó. Trong trường hợp này, người ta dễ dàng nhận biết những đứa trẻ mới gặp là con cái nhà ai khi nghe được những câu nói tục, chửi bậy từ miệng của những đứa trẻ do bố mẹ nó vô tình để lại cho con.
Làm người thì ai cũng muốn nghe những lời thanh nhã, những câu nói hay, những hành động đẹp, đó là những mong muốn chính đáng, xã hội càng phát triển, còn người sống văn minh hơn thì đất sống của con viruts nói tục, chửi bậy cũng bị thu hẹp hơn. Thu hẹp chứ không phải bị tiêu diệt hoàn toàn, nó đang khu trú trong mỗi gia đình chúng ta chỉ chờ dịp thuận tiện là lại búng phát. Sự phát triển của xã hội phải đi qua ngõ từng gia đình hay gia đình là một xã hội thu nhỏ chính vì vậy những gì gia đình có thì xã hội cũng sẽ có. Cha mẹ còn để lại những con viruts phát ngôn không chuẩn mực ở con cái thì chắc chắn một ngày nào đó những con viruts đó sẽ được con cái họ phát tán ra ngoài xã hội. Muốn xã hội tốt đẹp, muốn môi trường giao tiếp được trong sạch, mỗi một ông bố, bà mẹ phải biết kiềm chế những cơn tức giận thái quá, tuyệt đối không để lại, đừng biến con cái và những thành viên trong gia đình mình là những nơi khu trú của những con viruts khiếm nhã.
Nguyễn Tam Hà
nguyenthehung | 23 May, 2011 10:38
Truyện ngắn của Nguyễn Thế Hùng
Chẳng biết tự khi nào và ai là người đầu tiên phát hiện ra thằng cu Còi con nhà Cọc là người nhẹ vía nhất trong làng, chỉ biết rằng cứ mỗi buổi chợ phiên, là thằng Còi cứ giả đò thơ thẩn trước cổng làng, quang gánh hàng chợ của các bà, các chị đi qua là thằng Còi cũng phải giả đò chạm vào, hai bên đều giả đò nhưng đầy chủ ý như thế, như thế và cứ như thế đã nhiều năm nay thế mà ai cũng mua may bán đắt cả. Cũng có nhiều buổi sáng mùa đông giá rét, vợ chồng nhà Cọc không cho con ra đầu làng hay do thằng cu Còi ngủ nướng trong giường quên dậy thì buổi chợ mất hẳn phần tự tin, trưa chợ thể nào cũng có vài người phải thất thểu gánh rau ế với chè héo về nhà. Thế là cũng chả biết tự khi nào và là sáng kiến của ai, cứ mỗi đợt đông về, người ta lại mang đến tặng cho thằng cu Còi con nhà Cọc những bộ quần áo ấm và rồi dặn như thế, như thế và như thế. Ngày ấy, ngày ấy và ngày ấy cháu nhớ giả bộ ra đứng thơ thẩn đầu làng và cứ như thế, như thế và như thế nhé. Người đi chợ đông, quần áo Còi mặc không hết, vợ chồng nhà Cọc bán bớt cho tiệm buôn đầu làng và cứ như thế, như thế và như thế, rất nhiều bộ quần áo cứ chạy vòng tròn từ nhà vợ chồng nhà Cọc ra tiệm buôn rồi từ tiệm buôn đến tay người đi chợ từ người đi chợ lại quay về nhà vợ chồng Cọc. Khi tiếng tăm thằng Còi con nhà Cọc nhẹ vía đã lan khắp làng trên xóm dưới thì hàng ngày Còi không chỉ sờ vào quanh gánh người đi chợ nữa mà trong làng ai muốn bán con trâu, con bò hay con lợn cho mau, cho được giá đều mời Còi đến rồi Còi lại giả đò khen con vật cần bán một câu, thế là hôm sau y như rằng sẽ có người đến hỏi mua và gia chủ bán được món hời. Từ bột phát đã trở thành nghề, có thằng con nhẹ vía, vợ chồng nhà Cọc từ đó đời sống cũng đỡ vất vả hơn.
Năm lên tám tuổi, thằng Còi gặp một ca khó, khó nhất từ trước đến nay, khó đến nỗi người nhờ và người được nhờ tưởng đã phải bó tay. Số là xóm trên có o Hường con bà cháu Hòe ngồi cồn đã ba mươi năm nay mà chưa ai chịu rước. Ở làng ba mươi tuổi chưa chồng coi như ế, từ được gọi bằng em rồi lên chị chuyển sang o coi như cầm chắc cái ế. Không nỡ để tuổi xuân con ra đi vĩnh viễn và mang theo cái sướng muôn đời đi theo, bà Hòe đánh đường xuống nhà vợ chồng Cọc, ba săn bảy sóc nhờ bằng được cu Còi về nhà mình. Nể tình, Còi lên, tay vuốt má o Hường, miệng khen o Hường đẹp dù trong con mắt của đứa trẻ trai lên tám vẫn biết là mình đã nói dối, đã nói không thật, đẹp thì đã có người rước từ lâu chứ đâu cần đến tay vuốt với miệng khen của cu Còi. Nghề mà, nghề thì phải khen thôi, đã ra tay giúp thì phải giúp cho đến nơi đến chốn. Nhưng cho dù cu Còi đã nhiệt tình hết cỡ nhưng o Hườâng phòng không vẫn hoàn phòng không, ngồi cồn vẫn kiếp ngồi cồn. Đôi mắt già đã qua một thời cháy rực lửa ân ái của bà Hòe lộ rõ sự âm u, ai oán, hoang mang và thất vọng. Bà buồn thay cho con gái, đã đành là xấu nhưng cũng đầy đủ một dưới hai trên, đứa nào lấy nó cũng có cái xỏ cái vò, lắm lúc bà phải than thở với lũ trai làng “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tức đất, tức vàng bấy nhiêu”. Đã hết cách vậy mà cái sướng ngàn đời vẫn còn rong chơi ở tận đẩu tận đâu. Nhưng không lẽ đành bất lực bó tay ngồi nhìn cái tuổi nó đuổi xuân đi nơi con gái. Và rồi đã quyết, lần này bà Hòe không dám đến nhà vợ chồng Cọc nhờ cu Còi nữa mà đợi lúc cu Còi dắt bò ra bãi soi thả, làm như vô tình mẹ con bà chắt Hòe cũng xống áo ra sông tắm. Trưa hè nắng gắt, mẹ con bà và thằng cu Còi đội cả trời nắng trưa để ra sông. Vấn tóc dắt tai rồi bà chắt Hòe khoan thai cởi yếm, hai trái mướp già trước ngực bà được dịp xổ ra lơi lả cùng nước sông mát như thạch. Trên nắng, dưới nước, ở giữa có đôi mắt thằng cu Còi. Cởi yếm mình xong, bà chắt Hòe nhìn sang con gái vẫn còn đầy đủ áo xống đứng trân trân mặc cho nước lả lơi vơi vít hai ống quần. Điên tiết, bà nhay con qua hai kẽ răng:
- Đồ thối thây, có mau cởi ra không thì bảo.
- Con ngượng lắm người ta thấy, công lao giữ gìn ba mươi năm nay - O chắt Hường thẹn thùng tính không nói chỉ nam mô A Di Đà nhưng sợ mẹ nhay nên đành trả lời vậy.
- Đồ ngu, có phải mả tổ đâu mà giữ rịt như thế, làm hoa để người ta hái, làm gái để thiên hạ người ta nó vần vò con ạ, ba mươi tuổi mà chưa có thằng nào nó vần vò coi như là chưa sống, chưa sống thì sẽ không lớn nổi thành người. Không thành người vậy mà không biết nhục hả con. Tôi đây lấy chồng từ thuở mười ba, đến năm mười tám em đà năm con, ra đường em hãy còn son, về nhà em đã năm con cùng chàng. Đến giờ tôi vẫn còn hận bố cô đấy, hương lửa đang mặn nồng thì tự dưng một ngày lập xuân mưa rơi thế mà ông ấy trốn xuống âm phủ. Lấy chồng từ thuở mười ba, mười ba tuổi đã biết vậy mà vẫn tiếc, biết thế còn sớm hơn. Cởi mau không thằng Còi đuổi bò về bay giờ.
Vừa sợ mẹ, vừa cũng muốn sớm được biết cái sướng chưa một lần biết mà luôn nghe qua mấy cái mồm thêu dệt của mẹ, của mấy bà nạ dòng, của đám đàn ông có bộ râu dê, o chắt Hường tần mần tỉ mẩn lần từng cúc áo một. Đôi mắt đàn ông trên khuôn mặt của thằng bé tám tuổi chuyển từ hai quả mướp già sang hai cái bánh bao có lẽ người làm bánh lơ đãng cho vào quá nhiều bột nở. Lại còn sông, còn nước, còn mái tóc o Hường nửa như e nửa như ấp, còn một nửa lý lơi làm cho khuôn mặt o đỏ tứng lựng lên. Lạ, đàn bà dù có xấu đến đâu khi ướt cũng nhìn thấy xinh. Lạ, đàn bà dù xấu đến đâu khi thẹn nhìn cũng thấy có duyên. Thằng cu Còi cứ đứng đực mặt như ngỗng ỉa, dớt dãi chảy đầy ngực, nó không thể lý giải nổi, để làm gì thì nó cũng không thể biết nhưng mắt nó không thể rời ra được nữa rồi. Hai cái bánh bao đó chắc chắn không thể làm nó no bụng, nhưng con mắt thì no, con mắt thì cứ muốn nhìn, hai tay cứ muốn ngọ nguậy, muốn nắm, mấy ngón cứ muốn duỗi ra rồi lại co vào. Nó đánh rơi cái roi chăn bò khi nào không hay không biết, nó bóp nát cái nón mê đội đầu khi nào không biết không hay. Phải đến một lúc lâu sau, lâu là bao lâu thì thằng cu Còi cũng không biết, nó bỗng giật mình khi nghe tiếng kêu: “Con nhà Cọc mải chơi đâu để bò ăn hết ngô rồi này”. Hóa ra trong lúc Còi bận nhìn hai cặp vú thả rông thì con bò cũng được thả rông đi tìm ngô non để ăn. Nghe tiếng kêu cu Còi mới giật mình ù té chạy đi tìm bò trả lại hai cặp vú thả rông cho dòng sông đang thơ thới chảy.
Thằng cu Còi đã chạy đi nhưng o Hường vẫn cứ đứng phô phang hai trái bánh bao có quá nhiều bột nở ở đó. Và hình như ánh mắt, ánh mắt hồi nãy không phải là của đứa bé chăn bò mới tám tuổi đầu? Ánh mắt đó hình như vẫn còn, vẫn còn đọng lại trên da thịt nhạy cảm, thơ thới, thẩm thỉ của o Hường. Anh mắt đó đã có mấy bận đậu lại trên da thịt o trong những lần hiếm hoi o trễ nải áo xống đi qua đám đàn ông chán vợ. Và o vẫn đứng mặc cho nước lý lơi bơi sấp ngửa giữa hai ống chân quần. Mãi đến lúc bà Hòe lên tiếng: “Đồ thối thây, giờ thì khép lại được rồi, khi bảo cởi thì không cởi, lỡ cởi ra rồi không muốn đậy lại nữa à” thì o mới lại giật mình nhưng không mặc lại áo, o nhảy đổng lên rồi lặn ùm xuống sông, ngực miết miên man vào cát. Nước, cá và cát làm người o nóng lên, nước chỗ o lặn sôi sung sùng sục, cá dại dột nổi bụng chết trắng sông. Được một lúc, nước bớt sôi o cũng trồi lên, trồi lên, trồi lên rồi nây nẩy, nhấp nhô lượn theo sóng sông o thả trôi mình theo dòng đang ỡm ờ chảy xuôi. Bà Hòe đứng nhìn, ánh mắt vừa thương cảm vừa ganh tị với sự phô phang, phập phồng, phốp pháp, phơi phới, phì phạch có phần phờ phạc của con gái.
*
* *
Sau lần ấy, thật là trái khoáy, người về nhà chồng lại là bà Hòe. Còn o Hường thì vẫn luôn phập phồng, nhấp nha nhấp nhổm như ngồi phải cọc mỗi lần thấy bóng đàn ông đi gần đến ngõ nhà mình. Vậy mà không vẫn tịnh không, phòng o vẫn trơ vẫn trống. Sau lần đó, thằng cu Còi hay chăn bò ở bờ sông hơn, sông vẫn đầy sóng mà o Hường thì đã thôi giặt áo ở bờ sông. Chiều muộn thơ thẩn buồn chờ mãi mà người không đến, cu Còi ngồi buồn rồi phủi đít đuổi bò đi vòng xóm trên về chuồng. Đường gần Còi cứ đi vòng cho xa, lối này lắm bưởi nhiều hoa (đi vòng là để qua nhà đó thôi)(*). Nhưng qua nhà để làm gì thì chính cu Còi cũng không biết nữa. Cho đến một buổi chiều muộn, như mọi bận, khi qua ngõ nhà o Hường, cu Còi lại thơ thẩn nhìn vào thấy o Hường đang thấp thoáng sau rào râm bụt, tim cu Còi như ngừng đập, phút giây này trái đất cũng ngừng quay, chỉ còn sự đắm say mải mê nhìn của cu Còi, nước miếng lại ướt đẫm ngực áo mục đồng. O Hường biết, o Hường thấy và o Hường gọi Còi vào nhà. Một lần nữa con bò nhà cu Còi được dịp thả rông lại lẻn vào đám khoai lang lá xanh mươn mướt mỡ đang trên vồng của nhà o Hường. Mặc, cu Còi đang bận theo đuổi cặp ngực thả rông của o. Căn mình lớn, vía mình cao, ao mình cạn nên lần trước nó chỉ nhìn thôi thì chưa thể chưa linh nghiệm, lần này cho nó thoa may ra có người đến (chắc là o Hường nghĩ thế). O Hường bảo thoa, ban đầu thì cu Còi sợ lắm, sợ đến vãi cả mồ hôi hột, nhưng khi cu Còi bắt đầu thấy thinh thích thì o Hường chộp vội tay cu Còi ấn xuống. Hết hồn, hết vía như bị điện giật, cu Còi vội giật tay lại rồi hớt ha hớt hải chạy ra khỏi nhà o Hường. Vừa chạy Còi vừa lẩm bẩm: “Quý báu gì cái bàn chải, lạ gì cái bàn chải mà phải giấu trong quần…”
Liều vậy mà được, sau lần ấy thì: “Một năm có lắm là ngày/ Mùa hoa mùa cốm vào ngay mùa hồng/ Từ ngày cô đi lấy chồng/ Gớm sao một quãng đường đồng mà xa/ Bờ rào cây bưởi không hoa/ Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo/ Lợn không nuôi đặc ao bèo/ Gàu không dây chẳng buồn treo vào giàn/ Giếng khơi mưa đọng nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”(*) Cu Còi không về qua ngõ nhà o Hường nữa một phần vì o Hường đã đi lấy chồng và một phần là do cu Còi sợ. Cái sợ của cu Còi giống như cái sợ của đứa trẻ con hiếu động tinh nghịch, một lần nghịch dại bị điện giật, dù chưa đến nỗi chết nhưng đã khiếp mất vía, khiếp đến cả con đường đi qua ngõ nhà o Hường.
*
* *
Hình như cái nhẹ vía của cu Còi chỉ giúp ích được cho người khác, còn bản thân mình thì lại khá hẩm hiu. Tốt nghiệp đại học đã mấy tháng nhưng chẳng ma nào nhận vào làm, đang xắm nắm tính về quê lấy đuôi trâu làm thước ngắm thì có người đến tìm. Khi Còi đang xắm nắm để trưng ra nào là lý lịch ba đời ăn củ chuối, nào là trong họ hàng hang hốc chưa có ai lỡ xỏ nhầm giầy Tây, nào là sinh viên nghèo vượt khó vân vân và vân vân thì ông giám đốc, lấy tay gạt tất cả sang một bên và phán:
- Tất cả những thứ đó cậu giữ lấy làm kỷ niệm.
- Thế ông gọi tôi đến để làm gì?
- Đơn giản thế này, hàng ngày, đúng bảy giờ sáng, anh đến đứng thơ thẩn trước cửa nhà tôi, đợi khi xe tôi đi qua, anh làm như vô tình sờ vào xe tôi một cái, thế là được, hàng tháng tôi trả anh đủ tiền ở trọ và tiền ăn. Bước đầu cứ như thế đã, sau này nếu anh làm tốt, tôi sẽ nhận anh vào công ty làm việc, khi đó lương bổng sẽ tốt hơn.
Hóa ra công lao, tiền của đổ vào mười sáu năm học của cu Còi chẳng là cái đinh gỉ gì nên chẳng ai thèm ngó ngàng tới, cuối cùng họ cần đến cu Còi cũng chỉ là cần đến cái vốn tự có, vốn trời cho của Còi mà thôi.
Thế là từ đó dù trời mưa hay trời nắng, như một cái đồng hồ chuẩn, đúng bảy giờ sáng là cu Còi có mặt trước cửa nhà ông giám đốc. Và cũng từ ngày có cu Còi đứng trước ngõ công việc làm ăn của ông giám đốc phất lên hẳn, ông có nhiều chuyến đi công tác hơn, sau mỗi chuyến đi công tác về mặt mày ông rạng rỡ hơn đồng nghĩa với việc cu Còi cũng được thưởng nhiều hơn. Sau hơn ba tháng làm việc, một ngày như thường lệ, khi xe của ông giám đốc đã đi khuất, cu Còi chuẩn bị về nhà trọ thì bà giám đốc cho người gọi Còi vào. Khi cửa đã đóng then đã cài, trong phòng chỉ còn Còi với bà giám đốc thì bầu tâm sự của người đàn bà đang độ mặn mòi được dịp xổ ra, và như thế, như thế, và còi biết mình phải như thế, như thế và như thế. Hóa ra cái gì cũng có hai mặt của nó, công ty làm ăn phát đạt đồng nghĩa với việc ông giám đốc phải thường xuyên đi sớm về muộn, thế là mảnh ruộng ba bờ nhà ông lâu quá chả được thăm viếng cày bừa tưới tắm gì. Nói vậy cũng hơi quá, thỉnh thoảng ông cũng có quấy quá ghé qua, ghé quá quấy để nhắc chính ông rằng ông đang còn một đám ruộng bỏ hoang cỏ đã mọc lút bờ. Nhưng trò đời thà rằng cứ để cho nó nắng hạn triền miên còn hơn là thỉnh thoảng lắc rắc vài hạt mưa rồi ngừng đất đai như thế sượng sùng cả lên. Chuyện là vậy, hôm nay bà cho gọi Còi lên cũng là vì việc ruộng đồng nhà bà. Bà muốn như thế, như thế và như thế để ông thường xuyên về thăm viếng ruộng nhà hơn. Và cu Còi ngày nay không còn là cậu bé tám tuổi để phải sợ mất vía khi o Hường nhờ lấy cái bàn chải trong quần ra. Vốn con nhà nông dân luôn yêu quý đất đai ruộng đồng, trong lúc làm việc bên tai cu Còi lại văng vẳng câu nhắc nhở của bà Hòe: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang…” Lần trước thì như bị điện giật, còn lần này như bị nam châm hút, cu Còi không thể rút tay ra được nữa. Đúng là nắng hạn mưa rào, đến gần trưa cu Còi mới được thả tã tượi đi về nhà trọ.
*
* *
Sáng hôm sau vẫn như thường lệ, đúng bảy giờ cu Còi đến và bảy giờ hơn thì chiếc xe bóng loáng của ông giám đốc trườn ra khỏi cổng. Không vội về ngay, ăn quen bén mùi, Còi chần chờ nấn ná thêm mấy phút trước cổng nhà ông giám đốc. Y như rằng, chỉ mấy phút sau, cu Còi lại được bà giám đốc mời vào. Nhưng hôm nay hơi khác với hôm qua, khi cu Còi đang thay ông giám đốc hì hục cày bừa cho kịp vụ cấy thì chuông điện thoại để đầu giường của bà giám đốc reo vang. Còi tạm được nghỉ giữa buổi cày để bà giám đốc nói chuyện.
Nhưng mới nói được có mấy câu thì chiếc điện thoại của bà đốc rơi đánh bốp xuống nền nhà, đồng thời cu Còi cũng bị đạp văng ra khỏi ruộng đồng nhà bà.
Ông giám đốc bị bắt vì một phi vụ làm ăn, công ty bị tịch biên, cu Còi cũng từ đó mất việc làm. Thôi thì quê hương chốn thanh bình mà thẳng tiến, nhưng khác với ngày xưa, giờ đây mỗi sáng ai lỡ gặp phải cu Còi thì hàng ế sưng ế sỉa không tài nào bán được, đốt vía cũng không xong, lấy nước giải bôi vào cũng chẳng được.
__________________________
(*) Thơ Nguyễn Bính
nguyenthehung | 01 March, 2011 18:39
Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng
Trần Tử Lâm ở huyện Hương Sơn vốn là một người học giỏi có tiếng, ngay lần thi đại học đầu tiên đã đỗ cao tót vời, ai nấy đều nhìn Lâm ngưỡng mộ. Nhưng thật là oái ăm Lâm sinh ra không gặp thời, dù tốt nghiệp đại học loại giỏi nhưng ra trường chả có cơ quan nào nhận vào làm. Lang thang làm đủ nghề, xin việc đủ nơi không được, Lâm quyết định ăn chơi chốn thị thành một trận cho thỏa thích rồi sau đó xé ngay tấm bằng đại học, về quê lấy đít trâu làm thước ngắm. Ừ thì đi cày đấy, làm ruộng đấy, xem có chết ai không? Lâm nghĩ vậy.
Tử Lâm tìm đến quán Lôi Đình, quán vốn là chốn ăn chơi có tiếng ở đất Hà Thành. Mới vào đến quán, Tử Lâm phủi đít thượng lên ghế bành giả da, chân bắt chéo, miệng phì phèo điếu thuốc, nhìn cô phục vụ bằng nửa con ngươi trái rồi gọi ngay đồ ăn thức uống và thêm mấy em mái tơ, chân dài, dáng khoan thai ra ngồi cùng cho tay đỡ rỗi việc. Khi rượu đã ba chén, sờ bẹn hết ba em, trong người đã thấy tàng tàng say, chân tay rồi tứ chi thêm phần ngứa ngáy, Tử Lâm gọi bà chủ quán ra nói:
- Tôi cần một đào vầy, chân dài, nây nở, hơi thở nhẹ và có thêm nghề kể chuyện.
Nghe Tử Lâm đề nghị, nhìn dáng người nho nhã thư sinh của Tử Lâm, bà chủ quán ái ngại, gặng hỏi:
- Chả hay quý khách đang có chuyện chi buồn bực mà lại tìm đến đây? Nói thật, nhìn tướng mạo của quý khách là người sang quý, không hợp với chốn này.
Nghe hỏi vậy lại đang rượu tàng tàng, lòng đang buồn ngổn ngang, Tử Lâm thổ lộ hết với bà chủ quán về nỗi đoạn trường của mình, nghe xong bà chủ quán e dè nói:
- Tôi mở quán đã lâu năm, thỉnh thoảng cũng gặp một số người sinh bất phùng thời cũng tìm đến đây như quý khách để giải sầu, qua nhiều lần nghiệm ra thì thấy, hễ quý khách nào được cô Huệ Lan chiều chuộng là đương nhiên sau đó mọi xúi quẩy đều tan biến, đường hoạn lộ hanh thông, trồng cây cây cho trái, nuôi gái gái cho con, sòn sòn ba năm một bực lương, bốn năm một cấp chức. Quả thật nói ra quý khách không thể tin, vì điều này khó giải thích, chỉ thấy sự việc như thế nên nói với quý khách vậy thôi, thích thì thử, không thì chân dài ở đây cũng không thiếu.
Nghe bà chủ quán nói vậy, Tử Lâm suy nghĩ thêm một lúc rồi gục gặc cái đầu, rồi lại gật gù cái đầu, trong lòng lóe lên tia hy vọng. Hay ta thử thêm một lần nữa, biết đâu vận may sẽ đến. Nghĩ vậy nên Tử Lâm nói với chủ quán:
- Thế thì tối nay bà cho tôi cô Huệ Lan vậy.
Bà chủ quán ngập ngừng nói:
- Quý khách còn trẻ, lại nho nhã thanh tao thế này, chỉ hiềm cô Huệ Lan so với quý khách thì không xứng, năm nay cô ấy đã bốn mươi xuân. Làm cái nghề này bốn mươi coi như đã nghỉ hưu được rồi.
Tử Lâm thấy thất vọng, đã tính ăn chơi một trận cho thỏa thích, vậy thì ăn phải ăn ngon, chơi phải gái đẹp chân dài, mất tiền vào đây ai lại đi chơi gái đã… về hưu. Nhưng nghĩ đi rồi nghĩ lại, đây không phải là thưởng thức nữa mà đang đi tìm vận may, cũng giống như ốm đau thì uống thuốc vậy, thuốc có ngon bao giờ, Nghĩ vậy nên Tử Lâm quả quyết.
Thế là đêm ấy làm một trận mây mưa với cô Huệ Lan.
Quả như bà chủ quán nói, chỉ tuần sau đã có một cơ quan cho người về tận Hương Sơn mời Tử Lâm ra Hà Thành làm việc. Chẳng những có việc làm mà Tử Lâm còn được sắp xếp vào đúng công việc chuyên môn mình đã học vì vậy mọi công việc cấp trên giao cho Tử Lâm đều làm trôi chảy cả, ai cũng đánh giá Tử Lâm có năng lực, nhiệt tình, tính tình cởi mở và sức khoẻ tốt nên đường hoạn lộ sẽ rất hanh thông. Ai cũng nghĩ vậy nhưng đi làm đã hơn mười năm mà Tử Lâm vẫn chỉ là anh nhân viên quèn. Trong khi đó bạn bè đồng nghiệp có người trình độ yếu kém, tuổi tác, sức khỏe, nhiệt tình đều thua xa Tử Lâm vậy mà cứ bấm còi vượt mặt Tử Lâm ào ào đến ngứa mắt. Nhớ lại chuyện cách đó mười năm, Tử Lâm đánh bạo tìm đến quán Lôi Đình, nhắc lại danh tính của mình cho bà chủ quán và đề nghị được gặp Huệ Lan. Bà chủ quán rầu rầu:
- Huệ Lan đã trên năm mươi tuổi, làm cái nghề này ai mà trụ được đến cái tuổi năm mươi, sau lần với quý khách, Huệ Lan đã xin về quê mở cái quán nước nhỏ ở thôn Trung Phụng sống qua ngày.
Nghe vậy Tử Lâm buồn lắm, chả lẽ không còn cách gì để leo lên được cái chức trưởng phòng? Trên đường về cơ quan, cái tên Huệ Lan với thôn Trung Phụng cứ vang lên mãi trong đầu Tử Lâm. Suy nghĩ chỉ đạo việc làm, khi xe dừng lại thì Tử Lâm đã nhận ra quán nước đầu thôn Trung Phụng và ngồi sau cái bàn thấp nghèo hèn là một bà già tóc đã bạc gần hết, nhưng dù gì Tử Lâm vẫn còn nhận ra đó chính là Huệ Lan. Khách nhớ người bán, chứ người bán thì làm sao mà nhớ được khách. Sau khi chén trà đã vơi, Tử Lâm nhắc lại chuyện ngày xưa, Huệ Lan không tỏ vẻ gì nói:
- Xin lỗi, tôi đã chôn cái quá khứ đó lâu rồi nên không còn nhớ được chuyện gì nữa đâu.
- Nhưng chả lẽ cái lần cuối cùng để giải nghệ Huệ Lan cũng không nhớ?
- Không nhớ.
- Thật không nhớ?
- Thật không nhớ - Huệ Lan quả quyết đáp.
- Nhưng tôi thì luôn nhớ và cảm ơn Huệ Lan vì sau lần đó tôi đã có việc làm.
- Thế thì chúc mừng ông, nhưng tôi không dám nhận cái ơn đó, tôi là người bán hàng, có khách mua hàng thì tôi bán, thuận mua vừa bán vậy thôi. Tuy nhiên quý khách đã có lòng nhớ đến, tôi cảm ơn, tôi đã gặp không ít khách khi chăn gối thì mặn nồng thề thốt và tôn trọng lắm, nhưng khi có người thứ ba, họ nhổ cả nước miếng vào mặt tôi mà khinh bỉ.
- Thế gian trăm vạn người trăm vạn tính cách. Tôi cũng đã qua với trăm ngàn cô gái nhưng với Huệ Lan thì tôi luôn nhớ.
- Một lần nữa cảm ơn quý khách. Nhưng xin hỏi, quý khách trở lại tìm tôi có việc gì?
Trong mười năm dù chỉ là một nhân viên quèn nhưng mỗi lần được mời và những lần mời bạn bè đi chiêu đãi, Tử Lâm đã quen nhìn, quen ôm ấp và được những cô gái mơn mởn non tơ chiều chuộng. Giờ nhìn lại Huệ Lan, Tử Lâm bỗng rùng mình. Trước mặt Tử Lâm là bà già Huệ Lan chứ nào đâu có phải cô Huệ Lan tạm tạm của ngày xưa ở quán Lôi Đình.
Nhưng cũng như lần trước, có bệnh thì uống thuốc, cái chức trưởng phòng hấp dẫn lắm, không những trưởng phòng mà không biết chừng còn lên cao nữa. Ban đầu Huệ Lan không đồng ý, nhưng Tử Lâm tha thiết quá, tha thiết đến mức còn quỳ sụp xuống trước mặt Huệ Lan mà xin được một lần ân huệ cuối.
Như có phép thần, một tuần sau cơ quan có thay đổi nhân sự, giám đốc đến tuổi hưu, trưởng phòng của Tử Lâm leo lên chức giám đốc, và đương nhiên Tử Lâm được bổ nhiệm lên làm trưởng phòng. Rồi như mũi tên đã bật ra khỏi nỏ, sau một thời gian Tử Lâm được bổ nhiệm lên cao tót vời là tổng giám đốc. Quyền hành nghiêng trời lệch đất, tiền bạc trong túi rủng rỉnh, ra vào xe ngựa xênh xang, ăn chơi ngút trời mấy gió, gái gú váy ngắn chân dài. Có tiền, có quyền Tử Lâm ăn chơi cho bõ những giây phút miễn cưỡng gượng gạo phải hạ mình ngủ với cô điếm hết thời Huệ Lan.
Nhưng rồi việc gì đến thì nó phải đến, của kho có hạn, sắp có đợt thanh tra, lần thanh tra này không còn đùa được nữa, đoàn từ tận trung ương về. Khi Tử Lâm giật mình thì đã muộn. Có bệnh thì vái tứ phương, sau nhiều ngày chạy đến cửa các quan nhỏ, quan lớn để gõ không được - chẳng ai dại gì mà giúp Tử Lâm trong thời đoạn này, cả nước đang ra sức chống tham ô tham nhũng, giúp Tử Lâm đồng nghĩa đưa mình vào cửa tử - Không còn cách nào khác, Tử Lâm lại nhớ đến Huệ Lan và lại vội phóng xe về thôn Trung Phụng. Nhưng về đến chỗ quán xưa thì thấy cảnh đìu hiu, quán nước xưa có bà già Huệ Lan ngồi dưới gốc cây hoàng lan bây giờ không còn ai nữa. Tử Lâm quáng quàng hỏi thăm tin tức Huệ Lan, quáng quàng hỏi nhưng ai cũng lắc đầu…
*
* *
Sáng hôm sau, người làng Trung Phụng thấy một chiếc xe hòm của công an tìm về làng mình, họ lùng sục một lúc trong làng không thấy, bỗng có một đứa trẻ chăn trâu mách:
- Sáng nay cháu đi chăn trâu, thấy một người lạ ở ngoài nghĩa địa.
- Trông người ấy thế nào?
- Cao, to, tướng mạo như người thành thị.
Không đợi đồng chí đội trưởng gật đầu, chiếc xe hòm nổ máy phóng ngay ra nghĩa địa. Đến nơi, họ xuống xe, nhìn quanh quất rồi tất cả đều ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông trần như nhộng đang nằm sấp nhấp nhô trên ngôi mộ mới.
NTH
nguyenthehung | 28 February, 2011 10:59
Tích trử
Chẳng biết tự bao giờ, con người đã biết tích trử cho mình vô vàn thứ. Mục đích của tích trử là để khi cần là có mà dùng, khi mình không dùng hết thì cho bố mẹ vợ con sau đó cho hàng xóm hay đem đi làm từ thiện. Đó là tích trử về vật chất, còn về tinh thân con người ta cũng nhờ có tích trữ dần dần kiến thức, tích trử những niềm vui, những kỷ niệm…để càng ngày có kiến thức cao rộng, hạnh phúc được hài hòa. Tóm lại xét chung thì tích trử là một đức tính rất tốt của con người. Nhưng có một điều nếu chúng ta cứ tích trử một cách máy móc thì coi chừng cuộc sống của chúng ta sẽ bị mục ruỗng theo những thứ vật chất ta đã tích trử quá nhiều cho mình. Cuộc sống của con người là hành trình gian nan đến cái chết, có một điều trái khoáy là ai cũng muốn được “nhẹ gánh”, được “ra đi thanh thản” trong khi đó lại tích trử quanh mình quá nhiều những thứ không cần thiết, tích trử không có khoa học thì thử hỏi làm sao mà nhẹ nhàng cho được. Ngày trước những chiến sĩ ta vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc, ngoài những thứ được cấp phát trước khi lên đường, không ít người lính lãng mạn đã tích trử cho riêng mình vài ba cuốn sách, những bức ảnh người yêu, rồi xà phòng, kem đánh răng… nhưng đường xa dặm thẳm, đồi núi với dốc đèo như thế, hành trang mang nặng một ngày, vài ngày còn được chứ một tháng vài tháng thì biết tay nhau, thế là họ bắt đầu vứt dần, vứt dần lại dọc đường, ban đầu thì sách đọc đến trang nào thì cố mà nhớ, mà tích trử lấy kiến thức của trang đó rồi khẩn trương xé bỏ trang vừa đọc vứt đi cho nhẹ, rồi đến xà phòng có cũng được, không có cũng không chết ai, toàn núi với rừng muốn sạch cũng chả tiện, cuối cùng sau một vài đợt số sét rừng đi còn không nổi nói gì đến mang ba lô nặng, thế là đến cái bàn chải đánh răng họ cũng bẻ đi phần cán vứt đi chỉ chừa lại phần “bót” ngắn củn. Nghịch lý là thế, ai cũng tưởng cả cuộc đời cố mà tích trử cho nhiều vật chất vào, nhưng hóa ra cuộc đời lại dạy cho ta là muốn tồn tại, muốn nhẹ gánh, muốn thanh thản thì phải biết bỏ bớt đi những ham hố vật chất. Còn tinh thần thì sao. Đối với nhân đức của người khác, chúng ta nên nhìn nhận, nên rộng lương, tích trử dần dần nhân đức của bạn bè, của cấp trên, của cấp dưới thì ta sẽ có được một cuộc sống hạnh phúc, khi rộng lượng để mà thấy được những việc làm tốt của người chứng tỏ mình đang tích trử cho mình tính bao dung, rộng lượng. “Không ai yêu thương mình bằng chính bản thân mình” vậy mà nhiều khi mình đang phá sức khỏe mình bằng những thứ nhăng nhố ở đời vậy thì tại sao mình lại bắt người khác phải yêu thương mình như chính mình yêu thương mình được. Bạn bè, thủ trưởng, người hàng xóm…trước hết họ phải yêu thương, quan tâm chính bản thân họ rồi đến bố mẹ, vợ con họ sau đó rồi mới đến phần mình là đương nhiên. Thật là vô lý khi ta bắt họ phải yêu thương mình, phải cảm thông cho mình, phải tha thứ cho mình như yêu thương, cảm thông tha thứ đối với chí họ, bố mẹ, vợ con họ?
Biết được như thế ta sẽ sống thanh thản hơn, và sẽ tích trử dần những tình cảm nho nhỏ của bạn bè, nhân nó lên dần trong ta, ta sẽ có cái nhìn nhân ái hơn với những người xung quanh. Đối với những lỗi lầm của người khác, ta nên mù quáng đi một chút, ta mù quáng đi để nếu đó là những lỗi lầm nho nhỏ, lỗi lầm mà thường con người dễ mắc phải thì ta không nên xét nét để bụng làm gì, vì nếu ta là bạn thì ta cũng sẽ xử sự như thế, có khi còn tồi tệ hơn nữa. Đó là xét về mặt tình, còn về lý thì nếu ta cứ nhìn bạn bè với đôi mắt màu xám xịt thì sẽ thấy ở bạn bè vô cùng nhiều lỗi lầm và rồi sẽ bắt bẻ, tại sao bạn không như thế này, tại sao bạn không như thế kia… Không thể bắt người khác như thế này hay như thế kia được vì một điều đơn giản người khác đó không phải là mình, kể cả người khác đó là con cái ta thì ta cũng không thể muốn nặn như thế nào thì nặn cơ mà, đằng này người khác đó chỉ là bạn bè, là cấp trên, cấp dưới của mình. Nếu chúng ta quá khắt khe, xét nét với những lỗi lầm của người khác thì sẽ không còn khách quan để xét việc nữa. Khi định kiến lên ngôi thì sự công bằng sẽ mất. Còn nếu ta tin vào người, bao dung với người, sống cao thượng với người thì người cũng sẽ trung thành và biểu lộ lòng cao thượng với ta. Chung quy lại nếu chúng ta biết tích trử, và bỏ bớt đúng cách khuôn mặt ta dần sẽ có phật tính, cuộc sống ta sẽ giàu có hơn. Còn không biết tích trử và bỏ bớt thì bàn tay ta móng vuốt sẽ mọc dài hơn, gặp bạn bè không phải là cái bắt tay cời mở mà bàn tay luôn vo tròn lại thành nắm đấm, “cửa số” tâm hồn không còn là cửa sổ nữa, ta đã biến nó thành hai lỗ châu mai đen ngòm để nhìn vào bạn bè, đồng nghiệp, người thân.
NTH
nguyenthehung | 22 February, 2011 13:23
nguyenthehung | 22 February, 2011 13:22
Nguyễn Thế Hùng
Sinh năm 1972
Hiện làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Email: hungvnqd@gmail.com
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||